CƠ CẤU LÚA-TÔM LÀ MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI HỢP LÝ NHẤT CHO VÙNG ĐẤT NHIỄM MẶN Ở ĐBSCL.

Về mặt thủy văn, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ( ĐBSCL) kể từ lúc mới hình thành đã tồn tại  chế độ mặn- ngọt giao hòa, diễn ra theo mùa rất êm ái. Mùa mưa lũ, hệ thống sông Tiền, sông Hậu tải hàng tỷ khối nước ngọt chứa nặng phù sa từ thượng nguồn về xuôi để bồi đắp cho đồng ruộng ngày một thêm màu mỡ và tiện thể đẩy dòng nước mặn lùi xa ra biển. Vào mùa khô, với chế độ nhật triều, nước mặn lấn sâu vào kênh rạch và đồng ruộng theo từng cấp độ khác nhau,để rồi đến mùa mưa cũng nhờ nước ngọt đẩy xa ra biển. Người ta thường ví hình ảnh vận đông về thủy văn ở ĐBSCL giống như cặp thợ cưa mà một phía đẩy nước ngọt ra biển còn phía ngược lại thì đẩy nước mặn vào nội đồng. Vào những năm khí hậu hiền hòa , nguồn nước ngọt dồi dào thì mối quan hệ và tình cảm giữa 2 thợ cưa vẫn diễn ra êm ái. Nhưng khi nguồn nước ngọt bị vơi đi thì ranh giới mặn- ngọt sẽ lập tức bị thay đổi, kéo theo đó là sự thay đổi hệ thống cây trồng và vật nuôi. Đã hàng chục năm nay do khai thác thiếu khoa học và đặc biệt là do biền đổi khí hậu ngày càng trở nên ác liệt nên phạm vi của các tiểu vùng sinh thái mặn- ngọt cũng biến đổi rất nhanh chóng. Hệ quả là vùng có nước mặn xâm nhập vào nội đồng ngày càng sâu, diện tích lan toả ngày càng rộng.  Tuy nhiên, quy mô rộng, hẹp của diện tích bị nhiễm mặn lại chịu ảnh hưởng của mùa, và đặc biệt là lượng mưa và nguồn nước ngọt của hệ thống sông Tiền sông Hậu quyết định. Dù chưa có số liệu thống kê chính xác nhưng diện tích bị xâm nhập mặn và mặn hóa ở ĐBSCLđã cho thấy ngày một tăng. Cụ thể trước ngày giải phóng Miền Nam diện tích  nuôi trồng thủy sản  có thể đếm được trên đầu ngón tay. 

 Nhưng từ khi mở cửa ra thế giới và có chính sách khai thác nguồn tài nguyên phục vụ cho sản xuất thì diện tích nuôi trồng thủy sản bao gồm thủy sản nước mặn, nước lợ  và một phần từ nước ngọt đã tăng lên khá nhanh. Ví dụ, vào năm 2000 diện tích nuôi trồng thủy sản cả vùng là 445.300 ha thì  chỉ sau 5 năm ( 2005) diện tích này đã đạt con số 685.800 ha , tăng 240.500 ha hay 54,0%. Đến năm 2019 diện tích nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL là 800.000ha.Cũng vào năm 2000, riêng diện tích nuôi tôm chiếm 283.000ha, nhưng đến năm 2018 diện tích này đã tăng lên đến 600.000ha trong đó các mô hình canh tác lúa-tôm chiếm đến 170.000 ha. Hầu hết số diện tích này, trước đây hơn 40 năm là diện tích trồng 2 vụ lúa bấp bênh , năng suất thấp. Khi tần suất xâm nhập mặn ngày càng nhiều, càng sâu vào nội đồng thì  trồng vụ lúa thứ nhất thừơng hay bị thất mùa và từ đó kỹ thuật canh tác theo hệ thống  Lúa –Tôm đã được phát triển. Thoạt đầu  do thiếu kỹ thuật thích hợp nên  tổng thu nhập cả 2 vụ vẫn còn thấp. Về sau  kỹ thuật được áp dụng nhuần nhuyễn hơn, có được bộ giống lúa thích nghi tốt cho hệ thống này nên hệ thống Lúa-Tôm càng ngày thu thêm lợi nhuận càng cao mà môi trường lại được ổn định tốt hơn hệ thống nuôi tôm chuyên canh. Ví dụ, khi tổng kết các mô hình Tôm-Lúa tại huyện Mỹ Xuyên,ở Sóc Trăng, HTX Hoa Đề  đã cho thấy nếu dùng kỹ thuật phù hợp, tôm không bị bệnh, giống lúa chịu mặn khá và chất lượng cao thì riêng tôm đã cho thu hoạch đến 80-90 triệu đồng/ha/vụ, còn lúa nếu sử dụng giống tốt, ví dụ ST 24 thì do năng suất và chất lượng cũng thường tốt hơn,nên  tổng thu đạt được 60 triệu đồng /ha, trừ chi phí cũng còn lời được 35-40 triệu đ/ha. Điều cần lưu ý là lúc chưa có bộ giống lúa thích hợp, một số bà con muốn bỏ lúa  để sản xuất luôn 2 vụ tôm thì hiệu quả mang lại thấp hơn. Một mặt do vụ mùa mưa nguồn nước không thích hợp cho tôm nước lợ, mặt khác do thiếu quy hoạch đồng bộ nên tưới và tiêu không đảm bảo vệ sinh cho tôm, tôm bị bệnh nhiều, năng suất thấp dẫn đến lợi nhuận thấp. Cũng tại Mỹ Xuyên, tổng kết kinh nghiệm tại hộ ông Nguyền Đình Khoa, canh tác Lúa-Tôm trên 3 ha,  sử dụng giống lúa ST24 trong mô hình, cũng cho thu nhập khá cao tương tự như HTX Hoa Đề ( dẫn theo Viết Đoàn, Phong Tùng và Chí Kiên, 15/4/2019).Ở Kiên Giang,tổng kết mô hình Lúa-Tôm  từ một số huyện trong tỉnh cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên trong sản xuất đại trà,mức lợi nhuận  của mô hình Lúa-Tôm có thấp hơn, phần lớn ở mô hình Tôm năng suất bình quân dao động từ 300-500kg tôm/ha;và năng suất lúa thu được cũng dao động từ 4-6 tấn/ha,dẫn đến mức lợi nhuận chung của mô hình này dao động từ 35-50  triệu đồng/ha. So sánh với mô hình 2 vụ lúa trên cùng điều kiện sinh thái hay kể cả vùng có điều kiện tốt hơn thì mức lợi nhuận này vẫn còn  cao hơn từ 2 đến 3 lần.   Hiện nay theo kế hoạch của các tỉnh ở ĐBSCL thì năm 2020 sẽ chuyển đổi 137.837 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây, con khác. Trong đó các tỉnh cũng mới định hướng chuyển sang loại cây hàng năm là chính. Trừ Đồng Tháp, dự tính diện tích chuyển đổi là 39.000 ha không có bở biển, còn lại các tỉnh khác đều có diện tích nằm trong vùng xâm nhập mặn. Vì vậy việc sử dụng phần lớn diện tích này sang hệ canh tác  Lúa-Tôm sẽ có tính khả thi cao. Vậy để hệ thống Lúa-Tôm  này có hiệu quả cao thì nên chú ý những điểm gì ?

Đối với vụ tôm:

Trong mô hình Lúa-Tôm, tuy con tôm thường mang lại lợi nhuận  cao hơn hợp phần cây lúa. Nhưng cũng đòi hỏi các biện pháp kỹ thuật được áp dụng  chặt chẽ hơn đối với cây lúa. Trước hết là môi trường nuôi phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ cả về chất lượng đất và chất lượng nước.Vì vậy, suy nghĩ đầu tiên là phải có quy hoạch mương tưới mương tiêu tách biệt rõ ràng, xử lý nước và đất kỹ để có độ pH thích hợp và không có nguồn bệnh gây hại lên tôm. Đầu Trâu mặn phèn là một trong những loại vật tư dùng để xử lý đất sẽ góp phần đạt được mục tiêu như vậy. Sử dụng nguồn giống tôm có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, cho ăn đúng theo quy trình đã được khuyến cáo và chăm sóc kỹ sẽ là những điều kiện cơ bản để mang đến thắng lợi cho vụ tôm trong mô hình Lúa-Tôm .

Với ruộng lúa

Vụ lúa thường được gieo sạ sau khi thu hoạch tôm vụ trước nên  việc làm đất sẽ gặp nhiều thuận lợi , mặt khác do nguồn thức ăn nuôi tôm  cùng với chất thải của tôm còn lưu lại nhiều nên sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng tốt cho ruộng lúa. Vấn đề cơ bản là phải theo dõi độ mặn của nước để quyết định thời gian gieo sạ thích hợp. Thông thường hạt lúa chỉ có thể nảy mầm và sinh trưởng bình thường khi độ mặn trong ruộng đạt mức dưới 1‰. Với ngưỡng độ mặn như vậy thì đã có nhiều giống lúa đạt chuẩn tham gia vào mô hình bao gồm các giống địa phương như Tài nguyên, Một bụi Lừn Minh hải hay các giống Cải thiện có nguồn gốc từ OM như OM 6976,OM 5451, OM 7947…, gần đây nhón lúa ST đã nổi lên thành các giống đạt được nhiều ưu điểm sử dụng cho mô hình Lúa-Tôm, góp phần mang lại lợi nhuận cao cho cả mô hình. Về thời vụ lại tùy thuộc vào thời gian nước mặn nhường chổ cho nước ngọt quyết định, chủ yếu là thời gian và cường độ mưa mang lại. Như vậy về kỹ thuật gieo sạ, kỹ thuật chăm sóc của hợp phần cây lúa không khác xa với cây lúa trồng ở vùng nước ngọt. Tuy nhiên, kỹ thuật bón phân và chăm sóc lại cần được lưu ý nhiều hơn. Kinh nghiệm cho thấy sử dụng Đầu Trâu mặn phèn liều lượng khoảng 120-160 kg/ha bón cho đất trước khi gieo sạ sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực:môi trường đất, nước sẽ tốt hơn, hạt giống nảy mầm đều và khỏe hơn. Cũng rút tỉa kinh nghiệm từ nhiều vụ, nhiều vùng, sử dụng phân Đầu Trâu TE-A1 và TE-A2 bón cho lúa trong mô hình với liều lượng thấp hơn so với các loại phân khác từ 20-30% vẫn cho năng suất lúa cao, chất lượng tốt. Đó cũng là nhân tố để làm tăng lợi nhuận của mô hình Lúa-Tôm. Liều khuyến cáo dùng ĐT TE-A1 bón thúc sau sạ 8-12 ngày, bón 10-12kg /1.000m2, thúc lần 2 sau sạ 18-22 ngày,bón 10-12 kg/1.000m2 và dùng ĐT TE-A2 bón đón đòng vào lúc sau sạ 38-42 ngày, liều bón từ 10-12 kg/1.000m2 , không sử dụng bất cứ loại phân khác để bón bổ sung. Thời kỳ bón đón đòng còn tùy thuộc loại giống trong mô hình, ví dụ, dùng giống Tài nguyên hay Một bụi thì thời gian bón có thể chậm hơn 7-10 ngày . Vì thời kỳ sinh trưởng của giống dài hơn. Chỉ cần áp dụng đúng các yếu tố kỹ thuật đã nêu thì mô hình Lúa-Tôm nhất định sẽ mang lại hiệu quả cao, môi trường cũng được cải thiện tốt.

GS.TS Mai Văn Quyền

Bảng giá phân bón

Kali Phú Mỹ bột6.600
Kali Israel bột6.400
Đạm hạt vàng 46A+ (Đầu Trâu)8.800
Ure Cà Mau6.600
Ure Phú Mỹ6.300
Ure Malaysia hạt đục6.450
Kali Phú Mỹ bột6.600
Kali Israel bột6.400
Đạm hạt vàng 46A+ (Đầu Trâu)8.800

[Xem tiếp]

Hỏi đáp

Bình Điền giải đáp các câu hỏi về việc sử dụng phân bón và phòng trừ sâu bệnh cho nhà nông.

Đặt câu hỏiXem câu hỏi

 

Tỷ giá Ngoại tệ

 


Top

CƠ CẤU LÚA-TÔM LÀ MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI HỢP LÝ NHẤT CHO VÙNG ĐẤT NHIỄM MẶN Ở ĐBSCL.

Về mặt thủy văn, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ( ĐBSCL) kể từ lúc mới hình thành đã tồn tại  chế độ mặn- ngọt giao hòa, diễn ra theo mùa rất êm ái. Mùa mưa lũ, hệ thống sông Tiền, sông Hậu tải hàng tỷ khối nước ngọt chứa nặng phù sa từ thượng nguồn về xuôi để bồi đắp cho đồng ruộng ngày một thêm màu mỡ và tiện thể đẩy dòng nước mặn lùi xa ra biển. Vào mùa khô, với chế độ nhật triều, nước mặn lấn sâu vào kênh rạch và đồng ruộng theo từng cấp độ khác nhau,để rồi đến mùa mưa cũng nhờ nước ngọt đẩy xa ra biển. Người ta thường ví hình ảnh vận đông về thủy văn ở ĐBSCL giống như cặp thợ cưa mà một phía đẩy nước ngọt ra biển còn phía ngược lại thì đẩy nước mặn vào nội đồng. Vào những năm khí hậu hiền hòa , nguồn nước ngọt dồi dào thì mối quan hệ và tình cảm giữa 2 thợ cưa vẫn diễn ra êm ái. Nhưng khi nguồn nước ngọt bị vơi đi thì ranh giới mặn- ngọt sẽ lập tức bị thay đổi, kéo theo đó là sự thay đổi hệ thống cây trồng và vật nuôi. Đã hàng chục năm nay do khai thác thiếu khoa học và đặc biệt là do biền đổi khí hậu ngày càng trở nên ác liệt nên phạm vi của các tiểu vùng sinh thái mặn- ngọt cũng biến đổi rất nhanh chóng. Hệ quả là vùng có nước mặn xâm nhập vào nội đồng ngày càng sâu, diện tích lan toả ngày càng rộng.  Tuy nhiên, quy mô rộng, hẹp của diện tích bị nhiễm mặn lại chịu ảnh hưởng của mùa, và đặc biệt là lượng mưa và nguồn nước ngọt của hệ thống sông Tiền sông Hậu quyết định. Dù chưa có số liệu thống kê chính xác nhưng diện tích bị xâm nhập mặn và mặn hóa ở ĐBSCLđã cho thấy ngày một tăng. Cụ thể trước ngày giải phóng Miền Nam diện tích  nuôi trồng thủy sản  có thể đếm được trên đầu ngón tay. 

 Nhưng từ khi mở cửa ra thế giới và có chính sách khai thác nguồn tài nguyên phục vụ cho sản xuất thì diện tích nuôi trồng thủy sản bao gồm thủy sản nước mặn, nước lợ  và một phần từ nước ngọt đã tăng lên khá nhanh. Ví dụ, vào năm 2000 diện tích nuôi trồng thủy sản cả vùng là 445.300 ha thì  chỉ sau 5 năm ( 2005) diện tích này đã đạt con số 685.800 ha , tăng 240.500 ha hay 54,0%. Đến năm 2019 diện tích nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL là 800.000ha.Cũng vào năm 2000, riêng diện tích nuôi tôm chiếm 283.000ha, nhưng đến năm 2018 diện tích này đã tăng lên đến 600.000ha trong đó các mô hình canh tác lúa-tôm chiếm đến 170.000 ha. Hầu hết số diện tích này, trước đây hơn 40 năm là diện tích trồng 2 vụ lúa bấp bênh , năng suất thấp. Khi tần suất xâm nhập mặn ngày càng nhiều, càng sâu vào nội đồng thì  trồng vụ lúa thứ nhất thừơng hay bị thất mùa và từ đó kỹ thuật canh tác theo hệ thống  Lúa –Tôm đã được phát triển. Thoạt đầu  do thiếu kỹ thuật thích hợp nên  tổng thu nhập cả 2 vụ vẫn còn thấp. Về sau  kỹ thuật được áp dụng nhuần nhuyễn hơn, có được bộ giống lúa thích nghi tốt cho hệ thống này nên hệ thống Lúa-Tôm càng ngày thu thêm lợi nhuận càng cao mà môi trường lại được ổn định tốt hơn hệ thống nuôi tôm chuyên canh. Ví dụ, khi tổng kết các mô hình Tôm-Lúa tại huyện Mỹ Xuyên,ở Sóc Trăng, HTX Hoa Đề  đã cho thấy nếu dùng kỹ thuật phù hợp, tôm không bị bệnh, giống lúa chịu mặn khá và chất lượng cao thì riêng tôm đã cho thu hoạch đến 80-90 triệu đồng/ha/vụ, còn lúa nếu sử dụng giống tốt, ví dụ ST 24 thì do năng suất và chất lượng cũng thường tốt hơn,nên  tổng thu đạt được 60 triệu đồng /ha, trừ chi phí cũng còn lời được 35-40 triệu đ/ha. Điều cần lưu ý là lúc chưa có bộ giống lúa thích hợp, một số bà con muốn bỏ lúa  để sản xuất luôn 2 vụ tôm thì hiệu quả mang lại thấp hơn. Một mặt do vụ mùa mưa nguồn nước không thích hợp cho tôm nước lợ, mặt khác do thiếu quy hoạch đồng bộ nên tưới và tiêu không đảm bảo vệ sinh cho tôm, tôm bị bệnh nhiều, năng suất thấp dẫn đến lợi nhuận thấp. Cũng tại Mỹ Xuyên, tổng kết kinh nghiệm tại hộ ông Nguyền Đình Khoa, canh tác Lúa-Tôm trên 3 ha,  sử dụng giống lúa ST24 trong mô hình, cũng cho thu nhập khá cao tương tự như HTX Hoa Đề ( dẫn theo Viết Đoàn, Phong Tùng và Chí Kiên, 15/4/2019).Ở Kiên Giang,tổng kết mô hình Lúa-Tôm  từ một số huyện trong tỉnh cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên trong sản xuất đại trà,mức lợi nhuận  của mô hình Lúa-Tôm có thấp hơn, phần lớn ở mô hình Tôm năng suất bình quân dao động từ 300-500kg tôm/ha;và năng suất lúa thu được cũng dao động từ 4-6 tấn/ha,dẫn đến mức lợi nhuận chung của mô hình này dao động từ 35-50  triệu đồng/ha. So sánh với mô hình 2 vụ lúa trên cùng điều kiện sinh thái hay kể cả vùng có điều kiện tốt hơn thì mức lợi nhuận này vẫn còn  cao hơn từ 2 đến 3 lần.   Hiện nay theo kế hoạch của các tỉnh ở ĐBSCL thì năm 2020 sẽ chuyển đổi 137.837 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây, con khác. Trong đó các tỉnh cũng mới định hướng chuyển sang loại cây hàng năm là chính. Trừ Đồng Tháp, dự tính diện tích chuyển đổi là 39.000 ha không có bở biển, còn lại các tỉnh khác đều có diện tích nằm trong vùng xâm nhập mặn. Vì vậy việc sử dụng phần lớn diện tích này sang hệ canh tác  Lúa-Tôm sẽ có tính khả thi cao. Vậy để hệ thống Lúa-Tôm  này có hiệu quả cao thì nên chú ý những điểm gì ?

Đối với vụ tôm:

Trong mô hình Lúa-Tôm, tuy con tôm thường mang lại lợi nhuận  cao hơn hợp phần cây lúa. Nhưng cũng đòi hỏi các biện pháp kỹ thuật được áp dụng  chặt chẽ hơn đối với cây lúa. Trước hết là môi trường nuôi phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ cả về chất lượng đất và chất lượng nước.Vì vậy, suy nghĩ đầu tiên là phải có quy hoạch mương tưới mương tiêu tách biệt rõ ràng, xử lý nước và đất kỹ để có độ pH thích hợp và không có nguồn bệnh gây hại lên tôm. Đầu Trâu mặn phèn là một trong những loại vật tư dùng để xử lý đất sẽ góp phần đạt được mục tiêu như vậy. Sử dụng nguồn giống tôm có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, cho ăn đúng theo quy trình đã được khuyến cáo và chăm sóc kỹ sẽ là những điều kiện cơ bản để mang đến thắng lợi cho vụ tôm trong mô hình Lúa-Tôm .

Với ruộng lúa

Vụ lúa thường được gieo sạ sau khi thu hoạch tôm vụ trước nên  việc làm đất sẽ gặp nhiều thuận lợi , mặt khác do nguồn thức ăn nuôi tôm  cùng với chất thải của tôm còn lưu lại nhiều nên sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng tốt cho ruộng lúa. Vấn đề cơ bản là phải theo dõi độ mặn của nước để quyết định thời gian gieo sạ thích hợp. Thông thường hạt lúa chỉ có thể nảy mầm và sinh trưởng bình thường khi độ mặn trong ruộng đạt mức dưới 1‰. Với ngưỡng độ mặn như vậy thì đã có nhiều giống lúa đạt chuẩn tham gia vào mô hình bao gồm các giống địa phương như Tài nguyên, Một bụi Lừn Minh hải hay các giống Cải thiện có nguồn gốc từ OM như OM 6976,OM 5451, OM 7947…, gần đây nhón lúa ST đã nổi lên thành các giống đạt được nhiều ưu điểm sử dụng cho mô hình Lúa-Tôm, góp phần mang lại lợi nhuận cao cho cả mô hình. Về thời vụ lại tùy thuộc vào thời gian nước mặn nhường chổ cho nước ngọt quyết định, chủ yếu là thời gian và cường độ mưa mang lại. Như vậy về kỹ thuật gieo sạ, kỹ thuật chăm sóc của hợp phần cây lúa không khác xa với cây lúa trồng ở vùng nước ngọt. Tuy nhiên, kỹ thuật bón phân và chăm sóc lại cần được lưu ý nhiều hơn. Kinh nghiệm cho thấy sử dụng Đầu Trâu mặn phèn liều lượng khoảng 120-160 kg/ha bón cho đất trước khi gieo sạ sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực:môi trường đất, nước sẽ tốt hơn, hạt giống nảy mầm đều và khỏe hơn. Cũng rút tỉa kinh nghiệm từ nhiều vụ, nhiều vùng, sử dụng phân Đầu Trâu TE-A1 và TE-A2 bón cho lúa trong mô hình với liều lượng thấp hơn so với các loại phân khác từ 20-30% vẫn cho năng suất lúa cao, chất lượng tốt. Đó cũng là nhân tố để làm tăng lợi nhuận của mô hình Lúa-Tôm. Liều khuyến cáo dùng ĐT TE-A1 bón thúc sau sạ 8-12 ngày, bón 10-12kg /1.000m2, thúc lần 2 sau sạ 18-22 ngày,bón 10-12 kg/1.000m2 và dùng ĐT TE-A2 bón đón đòng vào lúc sau sạ 38-42 ngày, liều bón từ 10-12 kg/1.000m2 , không sử dụng bất cứ loại phân khác để bón bổ sung. Thời kỳ bón đón đòng còn tùy thuộc loại giống trong mô hình, ví dụ, dùng giống Tài nguyên hay Một bụi thì thời gian bón có thể chậm hơn 7-10 ngày . Vì thời kỳ sinh trưởng của giống dài hơn. Chỉ cần áp dụng đúng các yếu tố kỹ thuật đã nêu thì mô hình Lúa-Tôm nhất định sẽ mang lại hiệu quả cao, môi trường cũng được cải thiện tốt.

GS.TS Mai Văn Quyền

Hotline 1900 6613 Chat với chúng tôi qua Messenger Chat với chúng tôi qua Zalo Fanpage Bình Điền BFC Kênh Youtube Bình Điền BFC