Cây bông vải liệu có còn tồn tại? (15/06/2006)
Nông sản là một trong những lĩnh vực mà Việt Nam phải mở cửa mạnh cho hàng hóa của Mỹ cũng như các nước khác sau khi gia nhập WTO. Chuyện trồng bông dệt vải đã gắn bó với nông dân Việt Nam từ lâu những sắp tới đây, ngành trồng bông vải có nguy cơ bị xóa sổ trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng nhập khẩu.
Đã từng nhiều năm gắn bó với Trung tâm Nghiên cứu bông vải Nha Hố ở Ninh Thuận, rồi tham gia các dự án về phát triển bông vải do quốc tế tài trợ, nên TS. Hoàng Ngọc Bình, Trưởng phòng Kế hoạch – Đầu tư của Công ty Bông Việt Nam, hiểu khá rõ những thiệt thòi của nông dân trồng bông vải Việt Nam. Đọc tập tài liệu về cam kết cắt giảm thuế quan hàng nông sản của Việt Nam dành cho Mỹ trong thỏa thuận thương mại song phương Việt – Mỹ để Việt Nam gia nhập WTO, ông Bình tỏ ra lo lắng cho nghề trồng bông vải ở Việt Nam.
Mặc dù hiện nay giá bán bông vải (bông xơ) của nông dân và doanh nghiệp Việt Nam vẫn thấp hơn bông vải nhập khẩu từ Mỹ và một số quốc gia khác khoảng 5% nhưng diện tích trồng bông và sản lượng lại quá nhỏ bé. Từ hơn 30.000 ha bông vải trước năm 2004, cung ứng từ 10-15% nhu cầu bông xơ cho ngành công nghiệp dệt trong nước thì năm nay, dự kiến diện tích trồng bông vải của Việt Nam chỉ còn 20.000 ha, sản lượng khoảng 24.000 tấn bông hạt, tương đương 8.000 tấn bông xơ. Trong khi đó, ngành dệt trong nước hiện cần hơn 100.000 tấn bông xơ mỗi năm và đang phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu. “Với đà này thì nghề trồng bông vải của nông dân có thể bị xóa sổ”, ông Bình nhận định.
Theo TS. Nguyễn Đăng Nghĩa, chuyên gia về trồng trọt của Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, tính cạnh tranh của cây bông vải ở Việt Nam so với các cây trồng khác rất yếu bởi năng suất bông vải rất thất thường, khiến người nông dân không yên tâm đầu tư chuyên canh. “Nông dân sẵn sàng chặt cây bông vải để trồng cây khác nếu các loại nông sản khác được giá, bởi cây bông vải tuy có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng lại nhạy cảm với thời tiết, trong khi thời tiết gần đây rất thất thường”, ông Nghĩa nhận xét.
Một nghịch lý khác là trong những năm qua, nhiều loại nông sản như lúa, mía, bắp đều tăng giá, riêng bông vải tốc độ tăng rất thấp, thậm chí có khi 2-3 năm không hề tăng giá. Ông Bình cho rằng giá bông vải trong nước phụ thuộc vào giá thế giới nên doanh nghiệp đầu tư cho nông dân trồng bông vải như Công ty Bông Việt Nam hay Công ty Bông Đồng Nai không thể tùy tiện nâng giá thu mua bông vải trong nước.
Năm năm trước, Chính phủ đặt ra mục tiêu năm 2005 cả nước sẽ có 115.000 ha bông vải, đạt sản lượng 80.000 tấn bông xơ để đáp ứng 50% nhu cầu trong nước và đến năm 2010, phát triển 230.000 ha bông vải, cung cấp 70% nhu cầu bông xơ trong nước. Tuy nhiên, theo Hiệp hội Bông vải Việt Nam, thực tế mục tiêu này đã phá sản do diện tích và sản lượng bông vải trong nước không những không tăng mà còn giảm dần, trong khi nhu cầu bông xơ cho công nghiệp dệt lại tăng mạnh.
Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Mỹ vào Việt Nam năm ngoái đạt 192 triệu đô la Mỹ, chiếm 17% tổng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam. Nếu tính cả Lâm sản và Thủy sản thì xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam năm ngoái đạt 238,5 triệu đô la Mỹ, tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2001.
Các mặt hàng nông sản chủ yếu mà Mỹ xuất khẩu sang Việt Nam năm 2005 là sữa với 50 triệu đô la Mỹ, bông xơ 46 triệu đô la Mỹ, gỗ nguyên liệu 43 triệu đô la Mỹ, trái cây tươi 8 triệu đô la Mỹ, lúa mì và bột mì 3 triệu đô la Mỹ, bã và hạt đậu nành 4 triệu đô la Mỹ. - (Nguồn: Bộ Thương mại)