Hỏi đáp về phân bón
Đặt câu hỏiẤn vào câu hỏi để xem câu trả lời
-
Em hiện đang ở tỉnh Đồng Nai, vậy cho em hỏi có cửa hàng phân phối nào của Bình Điền gần nhất không? Nếu tiện thì cho em xin số điện thoại. (duy nguyen)
-
Cho em hỏivề bệnh khô vằn hại lúa. xuan - xllexuan@gmail.com
Họ tên: xuan
Email: xllexuan@gmail.com
Địa chỉ: Quang ngaiTrả lời:
Khô vằn là bệnh hại quan trọng trên cây lúa. Bệnh có thể làm thiệt hại tới 20-30% năng suất lúa và làm giảm chất lượng lúa gạo: hạt lúa bị lép hen, gạo xay bị nát.
* Nguyên nhân và triệu chứng:
Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra. Bệnh th ường xuất hiện và gây hại ở bẹ lá, phiến lá. Vết bệnh ban đầu hình bầu dục màu nâu xám, sau lan rộng ra không định hình, các vết bệnh liên kết với nhau thành các đám loang lổ như đám mây hoặc da Hổ. Bệnh thường hại từ những lá dưới trước, sau leo lên lá đòng làm cho bông lúa nghẹn không trỗ được, hạt lép lửng nhiều, giảm năng suất rõ rệt.
·
-
Xin cho cháu hỏi về bệnh bạc lá lúa và những chủng nòi gây bệnh bạc lá lúa ở nước ta. Cháu xin cảm ơn. (Nguyễn Hải Đường - Thuận Châu, Sơn La)
Họ tên: NGUYỄN HẢI ĐƯỜNG
Email:
Địa chỉ: THUẬN CHÂU_SƠN LATrả lời:
Bệnh bạc lá lúa - nguyên nhân và cách phòng tránh
Sản xuất vụ mùa trong nền nhiệt độ cao, ẩm độ cao, cùng với mưa to và gió lớn sẽ xảy ra. Lúa vụ mùa một số giống có tiềm năng năng suất cao thường hay bị bệnh bạc lá. Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas Oryzea gây ra, khi mắc bệnh thì cây không có khả năng quang hợp để tạo dinh dưỡng nuôi hạt, từ đó những ruộng lúa bị bệnh bạc lá tỷ lệ lép rất cao, làm giảm năng suất rất lớn, có thể mất trên 50% năng suất.
I. Nguyên nhân gây bệnh bạc lá rất nhiều:
- Một số giống mẫn cảm với bệnh bạc lá như một số giống tạp giao và một số giống chất lượng.
- Do thời tiết nóng ẩm, mưa to gió lớn xảy ra trong thời kỳ lúa cần quang hợp cao.
- Do biện pháp canh tác làm đất không ngấu, cây lúa nhiễm bệnh vàng lá lá, cây lúa ra lớp rễ mới phát triển lá non nên gặp mưa dông dễ nhiễm bệnh bạc lá. sau lập thu, bón thêm phân cấp cứu vàng
- Bệnh thường mẫn cảm với lượng đạm dư trong lá, những ruộng bón đạm nhiều, bón muộn, bón lai rai, bón không cân đối giữ đạm, lân và kaly, những ruộng trũng hẩu dồn đạm cuối vụ, do biện pháp thâm canh gieo cấy, chăm bón không đúng kỹ thuật.
II. Đặc điểm bệnh bạc lá:
- Bệnh xuất hiện ở mép lá, cháy dọc mép lá từ đầu chóp lá cháy xuống (còn gọi là bệnh cháy bìa lá)
- Bệnh lan theo chiều gió.
- Buổi chiều những giọt keo vi khuẩn bạc lá khô đọng lại ở mép lá màu vàng, nhỏ như "trứng tôm".
- Đêm sương: giọt keo vi khuẩn này tan ra, chảy chạy dài theo mép lá, và gió làm xây xát lan sang những lá khác.
- Bệnh nặng: lá lúa cháy đặc biệt lá đòng cháy làm lúa lép lửng cao, giảm năng suất nghiêm trọng.
- Giống bị bệnh nặng: BT7, Tạp giao
III. Biện pháp phòng tránh bệnh bạc lá:
Để khắc phục tình trạng trên, phòng tránh bệnh bạc lá ở lúa mùa, ngoài các biện pháp canh tác đại trà, cần tập trung vào một số điểm sau:
1. Chọn giống chống chịu tốt với bệnh bạc lá để đưa vào gieo cấy ở vụ mùa.
2. Tuân thủ về kỹ thuật trong biện pháp thâm canh như:
- Để đất nhanh mục nên bón vôi từ 15- 20 kg/sào, làm đất phải đủ ngấu để tránh ngộ độc rễ nhiễm bệnh vàng lá khi lúa đang đẻ sau tiết lập thu.
- Chỉ cấy mạ đủ tuổi, chăm bón sớm và cân đối tập trung vào giai đoạn đầu vụ. Nên bón phân NPK chuyên dùng, phân có hàm lượng kaly cao, chú ý bón nặng đầu, nhẹ cuối. Ưu tiên bón kaly cao cho các giống hay bị nhiễm bạc lá. Những chân ruộng hẩu hay dồn đạm cuối vụ: cần giảm bón đạm, bón tăng lân và kaly cho cây cứng, lá dầy đỡ bị bệnh bạc lá cuối vụ. Đặc biệt giống chất lượng, nên cấy lùi thời vụ cuối tháng 7 (25-30/7) để lúa trỗ sau 25/9 đến trước 5/10, sát tiết hàn lộ nhiệt độ giảm, thời tiết mát, sẽ đỡ bạc lá hơn. Sử dụng bón phân cho lúa chất lượng, lúa lai là bón lót sâu, bón thúc sớm ngay sau cấy 7-10 ngày: hết cả đạm và kaly .Không bón kaly giai đoạn lúa đứng cái vì cây lại huy động đạm lên dễ bạc lá.
3. Trung tuần tháng 8 có đợt sâu đục thân, sâu cuốn lá hại lúa, đầu tháng 9 cũng có lứa sâu cuốn lá và đục thân hại lá đòng, khi phun thuốc trừ sâu cần bổ sung thêm thuốc phòng chống bạc lá bằng thuốc sasa, hoặc xanthomic, ở cả 2 đợt này cho những ruộng hay bị bệnh và những giống hay nhiễm bệnh bạc lá. Nên phun phòng bệnh bạc lá ngay sau khi có đợt mưa dông lớn, khi ruộng chưa xuất hiện vết bệnh trên lá. Chỉ phun thuốc trừ bệnh khi thật cần thiết bằng thuốc Staner, Kasumin, Batuxít…, theo chỉ dẫn của chuyên ngành BVTV. Thực hiện được các điểm trên chắc chắn đã hạn chế phần lớn bệnh bạc lá đối với lúa vụ mùa. Sản xuất nông nghiệp muốn có năng suất cao phải chủ động ngay từ đầu vụ. Đặc biệt bệnh bạc lá khi đã xuất hiện mới xử lý thì hiệu quả không cao, vì vậy chúng ta cần áp dụng liên hoàn các biện pháp kỹ thuật thâm canh ngay từ đầu vụ mới giành được thắng lợi.
Trích nguồn: Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư quốc gia
-
Bệnnh nấm hồng trị loại thuốc gì? (Vo Van Hien - Gia Lai)
Họ tên: Vo Van Hien
Email: tinh_sice
Địa chỉ: gia laiTrả lời:
Bệnh nấm hồng (còn gọi là mốc hồng- pink disease) là một bệnh phổ biến trên cây thân gỗ ở các vùng nhiệt đới ẩm trên thế giới. Bệnh rất phổ biến trên cây ăn quả đặc biệt trên khu vực rìa phía nam của Tây Nguyên. Những vùng có lượng mưa cao trên 250 mm/tháng, có thời tiết nóng ẩm dài ngày trong mùa mưa, là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển. Vùng Tân Phú, Định Quán của Đồng Nai, Ma Đ’hoai, Đam B’ri, Cát Tiên của Lâm Đồng, phía Bắc tỉnh Bình Dương, Bình Phước… là những nơi bệnh phát triển phổ biến và gây thiệt hại đáng kể. Các cây ăn quả thân gỗ như cây xoài (Mangifera indica), sầu riêng (Durio zibethinus), cây mít (Artocarpus heterophyllus), nhãn (Dinocarpus longan), chôm chôm (Nephelium lappaceum), mãng cầu ta (Annona squamosa), mãng cầu xiêm (Annona muricata), cây có múi (citrus), cây bơ (Persea americana), cây măng cụt (Garcinea mangostana) …là những cây bị gây hại phổ biến. Bệnh nấm hồng còn là địch hại nguy hiểm trên một số cây công nghiệp như cây cao su (Hevea brasilliensis), cà phê (Coffea spp.), cây tiêu (Piper nigrum), cây điều (Anarcardium occidentale), cây ca cao (Theobroma cacao)..vv..
Ký sinh và điều kiện phát sinh phát triển
Bệnh nấm hồng gây ra do một loài nấm ký sinh có tên khoa học là Corticium salmonicola Berk. & Broome. [Synonyms: Erythricium salmonicolor (Berk. & Broome) Burdsall; Phanerochaete salminicolor (Berk. & Broome)]. Nấm phát triển tốt trong điều kiện nóng ẩm. Điều kiện khí hậu thời tiết ở Nam bộ trong mùa mưa khá thích hợp cho bệnh phát sinh phát triển (trừ một số nơi có độ cao trời mát)
Bệnh tấn công chủ yếu trên vỏ của thân và cành của cây trưởng thành. Vết bệnh thường xảy ra ở vị trí phân cành hoặc các cành mọc ngang. Triệu chứng ban đầu là dạng chỉ màu trắng của khuẩn ty phát triển trên bề mặt của vỏ cây. Trong điều kiện nóng ẩm, vết bệnh lây lan nhanh chóng tạo thành một lớp khuẩn ty bao phủ quanh thân cành. Khuẩn ty ngày càng dày đặc như lớp phấn phủ có màu trắng phấn, về sau chuyển màu hồng phấn. Ở giai đoạn cuối chuyển màu xám trắng. Đồng thời trong quá trình lan rộng của vết bệnh, nấm ký sinh xâm nhập vào bên dưới phá hại mạch dẫn và tượng tầng làm làm chết vỏ cây; nước và chất dinh dưởng không được vận chuyển lên trên làm cho phần cành phía trên vết bệnh khô và chết sau đó. Phần vỏ nơi bị bệnh thường bị nứt và chảy nhựa.
Quản lý bệnh nấm hồng
Vườn cây ăn quả trồng gần các lô cao su thường dễ bị lây lan bệnh từ các vườn cao su. Những nơi nằm sâu dưới các thung lũng hoặc dọc theo các con suối sâu nơi có ẩm độ cao nhiều giờ trong ngày, thiếu ánh nắng trực tiếp và độ thông thoáng thấp nguy cơ bị bệnh gây hại nghiêm trọng rất cao.
Mặc dù nấm bệnh tấn công hầu hết các giống cây ăn quả thân gỗ. Tuy nhiên, cũng có những giống rất mẫn cảm với bệnh làm cho bệnh càng trở nên nghiêm trọng hơn. Hạn chế sử dụng những giống mẫn cảm mạnh với bệnh ở những khu vực nguy cơ bệnh cao. Ở Malaysia, hầu như tất cả các giống xoài được thử nghiệm điều nhiễm bệnh nấm hồng. Tất cả những giống sầu riêng (Durio zibethinus) được trồng phổ biến ở miền Đông Nam bộ đều bị nhiễm bệnh nấm hồng trong điều kiện ngoài đồng. Các cây thuộc nhóm cây có múi như cây bưởi (Citrus maxima), quýt Đường (Citrus reticulata), chanh (Citrus aurantifolia), cam Sành (Citrus nobilis), quýt Tiều (Citrus reticulata); cây mãng cầu (Annona spp.), cây nhãn (Dinocarpus longan) .v.v. đều bị bệnh ngoài đồng.
-Tạo vườn cây thông thoáng, có gió lưu chuyển không khí và ánh nắng mặt trời xuyên qua bên trong tán sẽ giúp hạn chế được bệnh. Nên trồng cây ở mật độ vừa phải; tránh trồng xen dày đặt, tỉa bớt tán cây chắn gió trong mùa mưa, thoát nước tốt cho vườn cây sau mưa là những biện pháp có lợi cho việc hạn chế bệnh. Nên tiến hành tỉa cánh tạo tán cho tán cây, tạo một khoảng trống hình ống trên đĩnh tán đi vào bên trong cành chính và thân nơi phân nhánh. Đây là kỹ thuật tạo tán hiện đại đã được áp dụng nhiều trên các cây nhãn (Dinocarpus longan), cây bơ (Persea americana), chôm chôm (Nephelium lappaceum), cây xoài (Mangifera indica) v.v…. Cách tạo tán này giúp tán cây thông thoáng, nhận nhiều ánh sáng mặt trời giúp tăng năng suất và giảm bệnh.
-Ngăn ngừa lây lan là cần thiết. Việc phòng trừ cần được tiến hành trên diện rộng hiệu quả mới cao. Những vườn chớm bệnh cần tập trung theo dõi và phòng trị kịp thời để hạn chế lây lan. Tránh mang cây của cây bị bệnh hay từ vườn bị bệnh vào vườn khác (sử dụng cành nhánh làm trụ cho cây tiêu (Piper nigrum), để chống đở cây trong vườn hay vất trong vườn làm củi đun…)
-Thường xuyên theo dõi để phát hiện bệnh sớm, phòng trừ bệnh kịp thời để giảm thiệt hại, nâng cao hiệu quả và giảm chi phí phòng trừ. Vườn cây và các khu vực có lịch sử nhiễm bệnh cần được chú ý theo dõi. Những tháng có mưa nhiều và tập trung (tháng 6-7 và tháng 9-10) cần tập trung theo dõi để phát hiện bệnh. Ở Nam bộ, mưa cũng thường tập trung và kéo dài khi có các áp thấp nhiệt đới và bão là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển và ngăn cản việc phòng trừ bằng thuốc hóa học.
-Trong điều kiện bệnh nặng, việc phòng trừ chủ yếu là tỉa bỏ, tiêu huỷ nguồn bệnh và sử dụng thuốc hóa học. Các cành nhánh bị bệnh cần được cắt và đem tiêu hủy, sau đó bôi hoặc phun thuốc trừ nấm. Những phần vỏ chớm bệnh có thể cạo bỏ phần mô bệnh đem tiêu huỷ và bôi thuốc trừ nấm lên vết thương.
-Bôi thuốc: Sau khi cạo bỏ mô bệnh hay cắt tỉa cành bệnh, cần bôi thuốc vào các vết thương. Việc quét thuốc có thể tiến hành để phòng bệnh trên các đoạn phân nhánh, nơi dễ bị bệnh… Duy trì lớp thuốc bảo vệ cho đến khi vết thương lành sẹo hoặc điều kiện thuận lợi cho bệnh đi qua.
-Phun thuốc: Có thể phun phòng khi thời tiết thích hợp cho bệnh phát triển hoặc phun sau khi tiến hành tỉa cành tạo tán, xử lý vết bệnh….
Các loại thuốc có thể sử dụng như dung dịch Bordeaux 1%, oxuyt clorua đồng, Validacin 5L, Bonaza 100DD.v.v... Validacin 5L pha 10-15 mL/bình 8 lít, Bonaza 100DD 5- 12 mL/bình 8 lít. Phun đều lên thân cành. Nên phun vào buổi sáng để tránh các cơn mưa chiều và phun thuốc lúc tán cây khô ráo. Khi thấy bệnh chớm xuất hiện có thể phun 1- 2 lần, tiếp tục theo dõi để quyết định có cần phun tiếp theo.
-Có thể kết hợp giữa bôi thuốc và phun thuốc. Để giảm chi phí có thể phối hợp luân phiên với thuốc gốc đồng. Lưu ý, không nên pha trộn thuốc gốc đồng với thuốc trừ nấm hoặc thuốc trừ sâu khác khi chưa hoặc không rõ về chúng.
Theo AGRIVIET -
Cho em hỏi những nghiên cứu về bệnh khô vằn hại ngô, về những loại giống kháng, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nuớc về bệnh khô vằn hại ngô. (Ngyuễn Thị Như Hải - 63/2 Phù Đổng Thiên Vương - banglangtim_buon_0801@yahoo.com)
Họ tên: nguyễn thị như hải
Email: banglangtim_buon_0801@yahoo.com
Địa chỉ: 63/2 phù đổng thiên vươngTrả lời:
Bệnh Khô vằn là một trong những bệnh khá phổ biến và nguy hiểm đối với cây bắp (cây ngô) ở nước ta. Bệnh do nấm Rhizoctonia
-
Bệnh thối nhũn trên cây bắp cải. (Le Ngoc Han - Long An)
Họ tên: Le Ngoc Han
Email: huynhlang2810
Địa chỉ: Long AnTrả lời:
Bệnh thối nhũn bắp cải hay còn gọi là bệnh thối xốp do vi khuẩn Erwinia carotovora M. gây ra, bệnh phát sinh phổ biến ở nước ta và nhiều nước khác. Bệnh có thể gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau: Họ cải, họ cà, họ bầu bí, họ đậu đỗ... Qua theo dõi nhiều năm ở các vùng rau đồng bằng bắc bộ, Tp. Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác, mức thiệt hại do bệnh gây ra dao động từ vài % đến trên dưới 30%, thậm chí nhiều ruộng cải bắp bị nặng không được thu hoạch.
Triệu chứng:
Bệnh xuất hiện đầu tiên là các đốm mọng nước, sau đó toàn bộ cây nhanh chóng bị thối với chất dịch có màu kem trắng và có mùi rất khó chịu. Triệu chứng bệnh thường hiện rõ khi cây cải bắp đã vào cuốn và su lơ bắt đầu hình thành hoa, làm cho hoa không phát triển được, lá bị rụng. Bệnh có thể phát triển từ đầu bắp lan dần xuống phía dưới gốc hoặc ngược lại. Trên lá, vết bệnh có vết giọt dầu, dần dần biến thành màu nâu nhạt, mô bệnh nhanh chóng lan rộng. Giới hạn giữa vùng mô bệnh và vùng mô khoẻ phân biệt rõ ràng. Trong trường hợp ẩm ướt các lá bị bệnh nhanh chóng bị thối nhũn, khi khô hạn các vết bệnh sẽ khô se, lá rất mỏng và trở thành màng trong. Nếu ta cắt ngang thân cây sẽ thấy các mạch dẫn bị biến màu đen hoặc nâu. Bệnh có thể làm cho phần trong của bắp cải bị thối, tạo thành các khoảng trống trong bắp, những lá ngoài cùng bị héo rũ, song buổi sáng và chiều tối có thể hồi phục. Nếu bệnh tiếp tục phát triển, các lá ngoài không thể hồi phục, héo rũ và cụp cuống để lộ toàn bộ bắp bị thối....
Biện pháp phòng trị:
- Thường xuyên luân canh đất trồng cải bắp, su lơ với các loại cây trồng khác họ, đặc biệt là với cây lúa nước để tránh tái nhiễm nguồn bệnh do tàn dư cây bệnh để lại trong đất từ trước.
- Chọn vùng đất cao ráo, lên luống cao, xẻ rãnh thoát nước tốt. Đất phải được cày bừa kỹ, bón phân chuồng đã hoai mục, tránh bón phân tươi. Bón các loại phân NPK cân đối, xới xáo thường xuyên trên mặt luống để giảm bớt độ ẩm, tạo độ thông thoáng nhằm hạn chế mức độ phát sinh và lây lan của bệnh.
- Trong quá trình chăm sóc, cần nhổ bỏ những cây bị bệnh, dùng vôi bột rắc vào những gốc đã nhổ đi. Kinh nghiệm của bà con vùng rau ngoại thành Tp. Hồ Chí Minh là tưới rãnh thấm vào luống để tránh tưới phun hoặc tưới xối trên mặt luống nhằm hạn chế mức độ lây lan trực tiếp của vi khuẩn gây bệnh.
Khi thu hoạch cần phân loại kỹ, loại bỏ những bắp đã bị bệnh để tránh lây lan trong quá trình vận chuyển và bảo quản.
- Nếu bệnh phát triển mạnh, mức độ gây hại lớn có thể sử dụng thuốc Starner 20 WP là thuốc đặc trị các loại bệnh vi khuẩn với nồng độ 0,1% (gói 10 gam thuốc pha cho bình 8 - 10 lít nước sạch) phun đều, ướt đẫm toàn bộ cây rau.
Tôi muốn biết chi tiết về kỹ thuật phân bón gốc của công ty. (Nguyễn Văn Chung - 397c Võ Trường Toản - TP Đà Lạt)
Họ tên: nguyễn văn Chung
Email: nguyenchung_binhphuoc@yahoo.com.vn
Địa chỉ: 397c võ trường toản - TP Đà LạtTrả lời:
Hiện nay Công ty chúng tôi có hơn 100 chủng loại sản phẩm cho tất cả các loại cây trồng, chúng tôi không biết là ông cần kỹ thuật bón gốc cho cây gì nên không thể tư vấn cho ông được. Để biết thêm chi tiết các kỹ thuật trồng và bón phân cho các cây trồng ông có thể tham khảo các bài viết trong mục Bản tin Bình Điền và phần Hỏi đáp.
Xin Bình Điền cho em biết đặc điểm và đặc tính sinh lý của giống lúa IR64. (nguyen trung dung - DAKLAK)
Họ tên: nguyen trung dung
Email: tangbangtroi5302@yahoo.com
Địa chỉ: BUON MA THUAT- DAK LAKTrả lời:
Giống lúa IR 64 hay còn gói là OM 89, được tuyển chọn từ giống nhập nội
Thông tin nhà nông
VietAgros 2026 - điểm hẹn công nghệ vì nền nông nghiệp xanh, bền vững
Chủ động trữ nước ngọt, bảo vệ vùng sầu riêng trước hạn mặn
Hành vụ đông gặp nhiều thuận lợi, được mùa, trúng giá
Mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp rộn ràng được mùa, trúng giá
Tăng 2.100 đồng/kg, giá cà phê chính thức phá mốc 100.000 đồng/kg
Đồng hành & Chia sẻ
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 5 – Truyền hình Gia Lai
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 4 – Truyền hình Gia Lai
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 3 – Truyền hình Gia Lai
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 2 – Truyền hình Gia Lai
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 1 – Truyền hình Gia Lai
















