Hỏi đáp về phân bón
Đặt câu hỏiẤn vào câu hỏi để xem câu trả lời
-
Xin Bình Điền cho biết sự khác nhau giữa đất phèn, đất chua, đất mặn. Nghe nói bón vôi thì có thể khắc phục tình trạng đất chua có đúng không? Vì tôi đang làm công tác ở Hội nông dân. Xin cảm ơn và chờ hồi âm từ Bình Điền. (hominhtan - hominhtan25@yahoo.com)
Họ tên: hominhtan
Email: hominhtan25@yahoo.com
Địa chỉ:Trả lời:
- Đất chua là đất có nhiều cation H+ trong phức hệ hấp thu của đất. pH là chỉ tiêu để phản ánh độ chua của đất. Độ chua có 2 loại là “độ chua hiện tại” và “độ chua tiềm tàng”: Độ chua hiện tại thể hiện hàm lượng cation H+ có trong dung dịch đất, ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng. Độ chua hiện tại có thể đo trực tiếp bằng giấy đo pH hoặc lắc với nước cất rồi lọc và đo độ pH của dung dịch bằng dụng cụ đo pH thông thường. Vì vậy độ chua hiện tại được ký hiệu bằng pHH2O (pH nước). Những cation H+ bám trong keo đất, phải nhờ một tác nhân nào đó đẩy nó ra khỏi bề mặt hạt keo chuyển vào dung dịch đất lúc đó độ chua mới thể hiện thì đó là độ chua tiềm tàng. Trong độ chua tiềm tàng phân biệt 2 trường hợp: Độ chua trao đổi và độ chua thủy phân: Độ chua trao đổi (ký hiệu pHKCl) là dùng một muối trung tính như KCl lắc với đất rồi lọc và đo độ chua, lúc này ngoài độ chua hiện tại (pH nước) còn một số cation H+ bám trên keo đất bị đảy ra nữa, vì vậy độ chua của dung dịch đất sẽ tăng lên và gọi là độ chua trao đổi; Trong trường hợp dùng một muối có phần axit yếu và bazơ mạnh như Ca(CH3COO)2 lắc với đất rồi lọc thì sẽ đẩy được cation H+ nhiều hơn (các cation bám chặt trong keo đất) ra dung dịch đất, lúc này dung dịch đất sẽ bị chua nhiều hơn độ chua trao đổi, và gọi là độ chua thủy phân. Trong thực tế thường dùng độ chua trao đổi (pHKCl) để đánh giá mức độ chua của đất: pHKCl <3,5: Đất đặc biệt chua pHKCl từ 3,5 đến 4,5: Đất rất chua pHKCl từ 4,5 đến 5,5: Đất chua pHKCl từ 5,5 đến 6,5:Đất ít chua - Đất mặn là đất có chứa nhiều ion Na+ hoặc Cl-. Đất có nhiều ion Na+ gọi là mặn natri, đất có nhiều ion Cl- gọi là đất mặn clor, đất mặn có thêm Ca2+, Mg2+ là đất mặn kiềm. Đất mặn khi tỷ lệ muối tan (TSMT) trong dung dịch đất > 0,1%, và phân cấp theo các chỉ tiêu sau:
Phân loại đất mặn

- Đất phèn còn có tên khác là đất chua mặn, đất chua phèn là đất có chứa nhiều lưu huỳnh (S) dưới dạng các hợp chất sulfua hay sulfat (SO42-). Đất phèn thường chua, hoặc rất chua. Đất phèn cũng có 2 dạng là phèn hoạt động và phèn tiềm tàng. Bón vôi giúp tăng độ pH của đất, tức khử chua cho đất như ông nói, có thể dùng vội bột CaCO3 hoặc bột đá vôi CaO. Sở dĩ vôi có thể khử chua được là do trên bề mặt hạt keo của đất chua, có rất nhiều ion H+… khi bón vôi sẽ xảy ra phản ứng:

Nếu là bột đá vôi (CaO), sau khi bón vào đất sẽ hút nước chuyển thành Ca(OH)2:
Nếu là vôi bột (CaCO3) thì các khí CO2 của đất sẽ chuyển thành canxi bicacbonat (Ca(HCO3)2) sau đó sẽ trung hòa H+: Như vậy sau khi bón vôi vào đất thì các ion H+ sẽ bị đẩy ra khỏi keo đất nhường chỗ cho Ca2+ và trở thành những hợp chất không chua như nước (H2O), hợp chất bay hơi (khí cacbonic CO2). Tùy theo cây trồng, lượng bón từ 500-1000 kg/ha, bón nhiều hay ít tùy thuộc vào độ chua và độ hoãn xung của đất (nếu đất thịt thì cần bón nhiều hơn đất cát hoặc cát pha). Ngoài việc dùng vôi cần tăng cường lượng phân hữu cơ cho đất, sử dụng các loại phân khoáng trung tính hoặc tính kiềm, không nên sử dụng phân chua sinh lý như SA, K2SO4…
Chú ý: Một số cây trồng có thể sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện đất ít chua như chè, dứa… vì vậy các cây trồng này ít khi phải bón vôi khử chua. -
Triệu chứng bệnh đốm vằn và hình ảnh có liên quanđến bệnh đốm vằn? (vanthan07@yahoo.com)
Họ tên: an
Email: vanthan07@yahoo.com
Địa chỉ:Trả lời:
Bệnh đốm vằn còn gọi là bệnh khô vằn hay ung thư do nấm Rhizoctonia solani Palo (là giai đoạn vô tính của nấm Pellicularia sasakii) gây hại. Bệnh thường xuất hiện trên lúa hè thu, vào giai đoạn lúa đứng cái, chuẩn bị làm đòng (khoảng 40 ngày sau khi sạ) vì vậy làm giảm năng suất rất lớn. Nấm bệnh gây hại trên bẹ lá, phiến lá và cổ bông. Trên bẹ lá lúc đầu xuất hiện vết đốm hình tròn dẹt hoặc bầu dục, màu xám nhạt, sau lan rộng ra thành mảng lớn như những đám mây, phần lá lúa bị chết lụi. Trên lá bệnh thường xuất hiện đầu tiên trên ở các lá già phía dưới, sau lan lên các lá phía trên. Vết bệnh lúc đầu cũng là đốm nhỏ hình bầu dục có màu xanh xám, tâm màu trắng xám, viền màu nâu. Khi gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ cao, ẩm độ bão hòa hoặc lượng mưa cao thì vết bệnh lan rất nhanh và liên kết chồng chất lên nhau tạo những lớp vằn vện như da hổ hoặc đám mây, vết bệnh lúc này không có hình dạng nhất định nên còn gọi là bệnh đốm vằn. Vết bệnh trên cổ bông thường là những vết kéo dài bao quanh cổ bông, hai đầu vết bệnh có màu xám loang ra, phần giữa vết bệnh có màu lục sẫm co tóp lại. Trên các vết bệnh đều xuất hiện hạch nấm, hình tròn dẹt hoặc bầu dục, lúc đầu có màu trắng, sau chuyển màu nâu. Hạch nấm khi già sẽ rơi xuống mặt ruộng, nổi trên mặt nước và là nguồn lân lan bệnh từ và nguồn gây bệnh cho vụ sau.
-
Xin cho biết cách chăm sóc hoa mai (Vu lan - Phú Yên)
Họ tên: Vu lan
Email: Phu Yen
Địa chỉ:Trả lời:
Mai có xuất xứ từ cây hoang dại, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đặc biệt với khí hậu miền Nam. Cây mai sinh trưởng và phát triển mạnh, có tuổi thọ cao và nếu được chăm sóc chu đáo sẽ cho hoa nhiều và có màu sắc đẹp. Cây mai mỗi năm rụng lá một lần vào cuối mùa Đông (tháng 1 - tháng 2 Dương lịch) và nở hoa vào đầu mùa Xuân, chỉ riêng mai Tứ Qúy là nở hoa quanh năm. Hiện nay nhờ kỹ thuật lai tạo giống, các nghệ nhân đã tạo ra được các giống mai có nhiều cánh, cánh xếp nhiều tầng như mai Huỳnh Tỷ, mai Giảo, mai Cúc, mai Cửu Long…và đa dạng về màu sắc như Bạch Mai, mai Miến Điện, mai Bến Tre, mai Tứ Quý… Kỹ thuật trồng và chăm sóc mai không phức tạp. Tuy nhiên để có một cây mai theo ý muốn của nguời chơi, ngoài những kỹ thuật thường áp dụng như tỉa cành tạo tán, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh việc trồng và chăm sóc mai cần chú ý một số điểm sau:
1. Chọn đất trồng mai: * Đất trồng mai trên vườn, líp: Cây mai phát triển tốt trên đất thịt nhẹ có nhiều chất hữu cơ, đất không chua, không bị nhiễm phèn, mặn hoặc các hoá chất độc hại. * Đất trồng mai trong chậu: Cần chọn loại đất có các tính chất như trên, trộn theo tỷ lệ khoảng 70-80% đất và 20-30% phân hữu cơ hoai mục theo trọng lượng đất trong chậu.
2. Kỹ thuật bón phân 2.1 Mai trồng trên vườn, líp: * Bón lót khi trồng: Phân chuồng (phân trâu bò, tro trấu, sơ dừa…) đã qua ủ khoảng 5-10 kg/gốc, vôi bột khoảng 200-300 gr/gốc + 50-100gr lân Đầu Trâu. Toàn bộ lượng phân này được trộn đều trong hố (hoặc rãnh) trước khi trồng cây con. Bón thúc: Sau khi trồng khoảng 10-15 ngày, cây bắt đầu ra rễ mới, dùng phân NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu hoà loãng để tưới, lượng phân sử dụng từ 50-100 gr/10-15 lít nước, khoảng 20-30 ngày tưới 1 lần. Khi mai đã lớn, lượng phân bón cũng được tăng dần và khoảng cách các lần bón phân xa hơn. Loại phân bón qua đất thích hợp cho mai là NPK 20-20-15+TE hoặc NPK 16-12-8-11+TE. Lượng bón khoảng 20 -50 gr/gốc/lần bón, cách khoảng 1-2 tháng bón 1 lần. Khi mai đã cho hoa ổn định: Hàng năm cần bón bổ sung phân hữu cơ từ 5-10 kg/gốc. Sử dụng loại phân NPK 20-20-15+TE hoặc NPK 16-12-8-11+TE bón mỗi năm khoảng 3-4 lần với lượng bón như trên vào các đợt: sau khi tàn hoa (sau dịp Tết), cắt tỉa cành; đầu mùa mưa; giữa mùa mưa và trước khi mai nở hoa khoảng 1-1,5 tháng. Cần bón phân theo hốc, theo rãnh sâu từ 5-7 cm theo tàn lá của cây, bón vào vùng có nhiều rễ non phát triển, sau đó lấp đất, giữ ẩm vào mùa khô, thoáng gốc vào mùa mưa. 2.2 Mai trồng trong chậu Tuỳ theo kích thước chậu, lượng bón có thể thay đổi từ 20-50 gr/chậu cho 1 lần bón. Với chậu lớn, cây mai nhiều tuổi có thể bón khoảng 50-80 gr/chậu. Tạo rãnh xung quanh thành chậu, sâu khoảng 3-5 cm, rải phân đều vào rãnh, lấp đất và tưới đủ ẩm. Tránh làm đứt rễ, cây dễ bị nhiễm bệnh qua vết thương. Nếu có điều kiện, hàng năm vào đầu mùa mưa nên thay đất trong chậu bằng đất mới tơi xốp, hoặc bổ sung phân hữu cơ đã hoai mục, lượng bón từ 2-3 kg/chậu.
* Sử dụng phân bón lá: Ngoài việc sử dụng phân bón qua đất, phân bón lá có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh trưởng và phát triển, bổ sung các chất dinh dưỡng thiếu hụt trong đất, kích thích ra rễ, ra lá, ra hoa theo ý muốn của người chơi mai. Một số loại phân bón lá được nhà vườn quan tâm đó là: Phân bón lá Đầu Trâu 501 thúc ra chồi ra lá, Đầu Trâu 701 thúc ra bông và Đầu Trâu 901 có tác dụng dưỡng bông giúp bông lâu tàn và có màu sắc đẹp. Tương tự nhóm sản phẩm phân bón lá Đầu Trâu 005, Đầu Trâu 007, Đầu Trâu 009 cũng có hiệu quả cao đối với tất cả các loại mai cảnh. Để biết thêm chi tiết xin truy cập mục Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa kiểng.
-
Trên thị trường hiện có bao nhiêu loại phân bón lá, thành phần và tác dụng của mỗi loại. Phân bón lá có thể sử dụng cho cây nho được không, nếu được thì sử dụng vào thời kì nào là thích hợp nhất? (Hà Hữu Nhân - 192 Tam Bình, Tam Phú, Thủ Đức)
Họ tên: hà hữu nhân
Email: 192 tam bình tam phú thủ đức
Địa chỉ:Trả lời:
Trên thị trường hiện có rất nhiều công ty sản xuất phân bón lá, mỗi công ty cũng có rất nhiều chủng loại khác nhau. Vì vậy không thể kể hết các loại phân bón lá như anh yêu cầu được. Phân bón lá của Công ty Phân bón Bình Điền dùng cho cây nho rất tốt, vì chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng và các chất kích thích sinh trưởng. Hiện Công ty có hơn 10 loại phân bón lá khác nhau, như Đầu Trâu 005, 007, 009; Đầu Trâu 501, 701, 901 và Đầu Trâu 502, 702, 902... thành phần một số loại như sau: - Đầu Trâu 501: 30%N; 15%P2O5; 10% K2O; 0,05% Ca; 0,05% Mg; 0,05% Zn; 0,05% Fe; 0,05% Cu; 0,025% Mn; 0,01% B; 0,005% Mo; 100 ppm GA 3; 100 ppm NAA; 100ppm NOA. - Đầu Trâu 701: 10%N; 30%P2O5; 20% K2O; 0,05% Ca; 0,05% Mg; 0,05% Zn; 0,075% Fe; 0,05% Cu; 0,05% Mn; 0,03% B; 0,005% Mo; 100 ppm GA 3; 100 ppm NAA; 100ppm NOA - Đầu Trâu 901: 15%N; 20% P2O5; 25% K2O; 0,05% Ca; 0,05% Mg; 0,05% Zn; 0,075% Fe; 0,05% Cu; 0,05% Mn; 0,02% B; 0,005% Mo; 100 ppm GA 3; 100 ppm NAA; 100ppm NOA - Đầu Trâu 005: 30%N; 10%P2O5; 10% K2O; 0,05% Ca; 0,05% Mg; 0,05% Zn; 0,025% Fe; 0,05% Cu; 0,025% Mn; 0,01% B; 50 ppm GA 3; 50 ppm NAA; 50ppm NOA - Đầu Trâu 007: 15%N; 30%P2O5; 15% K2O; 0,05% Ca; 0,05% Zn; 0,025% Fe; 0,05% Cu; 0,25% Mn; 0,03% B; 50 ppm GA 3; 50 ppm NAA; 50ppm NOA - Đầu Trâu 009: 20%N; 20%P2O5; 20% K2O; 0,1% Ca; 0,1% Mg; 0,05% Zn; 0,025% Fe; 0,05% Cu; 0,05% Mn; 0,02% B; 10 ppm GA 3; 50 ppm NAA; 50ppm NOA Tùy thuộc vào các giai đoạn sinh trưởng mà có loại phân thích hợp: Phân Đầu Trâu 005 và Đầu Trâu 501 kích thích cây ra chồi mới, lá mới. Dùng phun cho cây ở thời kỳ kiến thiết cơ bản, hoặc sau thu hoạch ở thời kỳ kinh doanh. Đầu Trâu 007 và 701 kích thích cây phân hóa mầm hoa, ra hoa trái vụ. Dùng phun cho cây ở thời kỳ chuẩn bị ra hoa hoặc xử lý ra hoa trái vụ, giúp hoa ra nhiều, tập trung và đậu nhiều quả. Đầu Trâu 009 và 901 giúp cây dưỡng quả tốt, chống rụng quả, quả to, đẫy, màu sắc đẹp, chất lượng tốt, bán được giá. Dùng phun cho cây từ sau đậu quả đến trước thu hoạch khoảng 10-15 ngày.
-
Xin cho biết có cần tưới phân bón lá cho cây mai sau tết kể từ khi lá non cho đến khi lá già thì ngưng tưới,chu kỳ bón là 7 ngày? (Nguyễn Quang Ngọc - Nha Trang, Khánh Hòa)
Họ tên: nguyễn quang ngọc
Email: Nha trang- Khánh hòa
Địa chỉ:Trả lời:
Cây trồng hút thu dinh dưỡng (phân bón) qua 2 con đường là bộ rễ và lá, trong đó con đường chính vẫn là bộ rễ cây. Vì vậy người ta thường dùng các loại phân bón đất để bón vào đất hoặc hòa với nước sau đó tưới cho cây trồng. Phân bón lá không chỉ chứa các chất dinh dưỡng đa, trung vi lượng như phân bón đất mà còn các chất kích thích sinh trưởng như GA3, αNAA, βNOA… kích thích sinh trưởng và phát triển của cây, sau ra nhiều hoa, cánh hoa to, màu sắc đẹp. Chính vì vậy ngay sau tết, khi hết hoa, cây ra lá non là anh có thể sử dụng phân bón qua lá để phun, loại phân thích hợp là Đầu Trâu 005 hoặc Đầu Trâu 501. Khi lá mai già thì vẫn sử dụng phân bón lá bình thường, chỉ dừng phun sau khi lặt lá mai để xử lý ra hoa. Cũng xin lưu ý với ông là phân bón lá thì sử dụng hiệu quả nhất là dùng để phun qua lá hơn là tưới vào đất.
-
Điều thường bị sâu đục thân, xử lý như thế nào? (Ngoc Duc - Hòa Thắng, Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc)
Họ tên: ngoc duc
Email: hoa thang buon ma thuot
Địa chỉ:Trả lời:
Sâu đục thân là loại khó trị, đặc biệt khi sâu đã đục vào trong thân cây. Sâu trưởng thành thường đẻ trên thân, phần gần gốc cây. Vì vậy, để phòng được sâu đục thân, đầu mùa mưa dùng hỗn hợp vôi/lưu huỳnh/nước theo tỉ lệ 10/1/40 quét quanh phần gốc gần mặt đất (khoảng 1-1,5m) để hạn chế việc đẻ trứng của sâu trưởng thành và tiêu diệt sâu non. Thường xuyên theo dõi vườn điều, nếu phát hiện sâu non nở cần dùng các loại thuốc phun để diệt như: Basudin 50EC, Diazan 10 H, Nugor 40 EC, Regent, Bi 58… phun kỹ cả lá và thân cây, phun từ 2-3 lần, lần sau cách lần trước 7 ngày. Khi sâu đã đục vào thân cây có thể dùng tay mây hoặc dây thép để bắt sâu, cũng có thể dùng thuốc bơm trực tiếp vào các lỗ đục của sâu. Các cành, cây đã khô do sâu đục thân gây hại cần thu gom lại đem đốt để diệt sâu.
-
Tôi cần 1 số tài liệu về các phương thức xen canh của cây lạc, xin hãy giúp tôi. Cho tôi đặt câu hỏi như sau: Xen canh của cây lạc có phải là biện pháp kỹ thuật đạt hiệu quả cao nhất không? Trồng lạc xen nhiều vụ trên 1 loại đất có ảnh hưởng nhiều đến chân đất đó hay ko? Tôi xin cảm ơn rất nhiều. (linh - ngoclinh_tt36a@yahoo.com)
Họ tên: linh
Email: ngoclinh_tt36a@yahoo.com
Địa chỉ:Trả lời:
Về tài liệu thì ông có thể tìm đọc cuốn “Hệ thống canh tác” Đặng Thái Thuận -NXBNN TP.HCM 2001. Trong hệ thống trồng xen thường có hại loại cây trồng là cây trồng chính và cây phụ trợ hay cây bạn. Ví dụ nếu chọn cây mía hay ngô là cây trồng chính thì cây phụ trợ có thể là lạc, đậu lăng, đậu đen… Việc trồng xen cây lạc với các cây trồng khác như ngô, mía, sắn… đúng là một phương thức canh tác có thể đem lại hiệu quả cao. Lạc là cây họ đậu, có khả năng tổng hợp đạm từ khí trời nhờ các nốt sần ở rễ. Sau khi thu hoạch lạc, hệ nốt sần này để lại trong đất một lượng đạm đáng kể giúp cho cây trồng khác phát triển tốt. Về không gian, cây lạc là cây có chiều cao thấp sẽ tận dụng áng sáng ở tậng thấp, cây ngô hoặc mía tận dụng áng sáng ở tầng cao hơn… Vì vậy trong hệ thống xen canh nếu lấy lạc là cây trồng phụ thì cây trồng chính có thể là cây mía hoặc ngô hoặc sắn, trồng hai bên mép luống lạc hoặc trồng thưa để lạc ít bị che lấp áng sáng. Trồng xen lạc nhiều vụ sẽ không ảnh hưởng đến đất, nhưng cần chú đến một số bệnh hại nguy hiểm như héo xanh vi khuẩn, chết rạc cây con... là những bệnh nguy hiểm trên cây lạc. Để phòng được các bệnh này thì tốt nhất nên trồng luân canh với lúa nước, hoặc sau mỗi vụ cần thu gom thân cây, đem ủ cho hoai sau đó mới bón lại ruộng.
-
Xin chỉ cho tôi phương pháp và tên các loại thuốc cùng cách sử dụng thuốc để trừ bệnh trắng lá lúa (bạc lá lúa) cây lúa non được 2 tháng tuổi, rất mong được phúc đáp sớm. Xin chân thành cảm ơn. (Nguyễn Hồng Hải - 1/12a Thống Nhất, Q Gò Vấp)
Họ tên: nguyễn hồng hải
Email: 1/12a thống nhất quận gò vấp
Địa chỉ:Trả lời:
Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae Dowson (trước đây có tên là Pseudomonas oryzae hoặc Phytomonas oryzae) gây hại. Vi khuẩn có thể gây hại trên cả mạ và lúa, tuy nhiên triệu trứng trên lúa biểu hiện rõ hơn. Trên lúa, triệu chứng bệnh bạc lá cũng không rõ ràng: Vết bệnh có thể xuất hiện ở đầu và mép lá sau đó lan dần vào trong hoặc dọc theo gân chính, cũng có khi vết bệnh xuất hiện trong phiến lá sau đó lan rộng ra. Giữa mô bệnh và mô khỏe có thể được phân biệt bằng đường gợn sóng màu vàng hoặc không vàng, có khi là một đường viền màu nâu, có khi đường viền màu nâu đứt quãng. Vết bệnh xanh tái, vàng lục, nâu bạc và khô xác. Phòng trừ bệnh bạc lá: - Sử dụng các giống chống, chịu bệnh, xử lý hạt giống trước khi gieo. - Bón phân đúng kỹ thuật, đúng giai đoạn giúp cây lúa sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, chống chịu tốt với sâu bệnh. - Ruộng bị bệnh sau khi thu hoạch cần dọn sạch tàn dư để diệt nguồn vi khuẩn bệnh. - Khi phát hiện bệnh, dùng một trong các loại thuốc sau để phun trừ: Kocide 53,8 DF, 61,4 DF; Starner 20 WP; Tilvil 50 SC, 50 WP; Fusai 5 SL; Batocide 12 WP… Phun theo hướng dẫn trên bao bì.
Thông tin nhà nông
VietAgros 2026 - điểm hẹn công nghệ vì nền nông nghiệp xanh, bền vững
Chủ động trữ nước ngọt, bảo vệ vùng sầu riêng trước hạn mặn
Hành vụ đông gặp nhiều thuận lợi, được mùa, trúng giá
Mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp rộn ràng được mùa, trúng giá
Tăng 2.100 đồng/kg, giá cà phê chính thức phá mốc 100.000 đồng/kg
Đồng hành & Chia sẻ
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 5 – Truyền hình Gia Lai
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 4 – Truyền hình Gia Lai
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 3 – Truyền hình Gia Lai
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 2 – Truyền hình Gia Lai
- Chương trình “Đồng hành và Chia sẻ” kỳ 1 – Truyền hình Gia Lai
















