Hỏi đáp về phân bón

Đặt câu hỏi

Ấn vào câu hỏi để xem câu trả lời

  • Cho tôi hỏi quí Cty có đại lý nào ở Phú Thọ không vậy, có thể cho tôi địa chỉ được không. Cảm ơn!

    Họ tên: vu viet hung
    Email: anh_kinkin@yahoo.com
    Địa chỉ: viet tri, phu tho
    Trả lời:

    Hiện nay công ty đã ký hợp đồng phân phối sản phẩm phân bón Đầu Trâu tại thị trường phía Bắc với Cty TNHH TMDV Thái Sơn - 36 Trương Hán Siêu, Hà Nội. Để biết các đại lý bán sản phẩm Đầu Trâu tại Phú Thọ xin liên hệ trực tiếp CTy Thái Sơn để được hướng dẫn. ĐT: 04. 38222 919

  • 20-20-15 giá bao nhiêu

    Họ tên: le van an
    Email:
    Địa chỉ: kien giang
    Trả lời:

    Giá NPK 20-20-15 Đầu Trâu, giá tiền mặt cho khách hàng vãng lai giao hàng tại Cty là 14.035.000 đ/tấn (chưa VAT).

  • Làm sao để sử dụng phân bón hoá học trên cây trồng cũng như trên đất đạt hiệu quả.

    Họ tên: dang thi tam
    Email: ko có
    Địa chỉ: hàm thuận nam
    Trả lời:

    Để sử dụng phân bón hóa học có hiệu quả phải theo nguyên tắc 5 đúng

    và một cân đối:

  • Xin cho hỏi về đặc điểm ,thành phần ,tính chất....và nhiều thông tin liên quan đến phân bón cố định đạm

    Họ tên: Nghiêm văn vững
    Email: chuyenthanthoai7887@yahoo.com
    Địa chỉ: Bắc Giang
    Trả lời:

    Phân cố định đạm gọi cho chính xác là phân bón có chứa vi sinh vật cố định đạm (N). Trong không khí có rất nhiều N phân tử, nhưng tuyệt đại đa số sinh vật không sử dụng được nguồn N này. Chỉ có một số VSV là có thể hấp thụ được N. Trong một số loại phân khả năng cố định đạm là so các VSV cố định đạm, các loại VSV này có thể chia làm hai loại lớn là VSV cố đinh N sống tự do và VSV cố định sống cộng sinh.

    1. VSV cố định sống tự do: Quan trọng nhất là 2 loài thuộc Azotobacter và lo ài Clostridium Pasteurianum.

    - Azotobacter: Có thể sử dụng nhiều loại hợp chất hữu cơ làm nguồn thức ăn. Chúng cũng cần nhiều nguyên tố khoáng, đặc biệt là 2 nguyên tố vi lượng bor (B) và molipbden (Mo) Azotobacter thích hợp với điều kiện hiếu khí vừa phải và pH thích hợp nhất 7,2- 8,2, song có thể phát triển được ở pH = 4,5- 9,0. Trong điều kiện thích hợp cứ mỗi khi tiêu thụ 1gam hydratcarbon Azotobacter có thể cố định được 10- 15mg N. Theo Becking (1974) thì VSV cố định đạm thuộc chi Azotobacter có 4 loài: A. chroococcum; A. beijerinckii; A. vinelandii; A. agilis.

    Trong nhiều năm, ở nhiều nước khác nhau, người ta đã sản xuất ở quy mô công nghiệp hoặc thủ công nghiệp những chế phẩm Azotobacter và gọi là azotobacterin. Ở Việt Nam, việc sản xuất và sử dụng chế phẩm azotobacterin chỉ đặt ra trong những điều kiện thâm canh có khả năng dồi dào về phân bón, cần bón vôi và bón phân lân để làm tăng số lượng Azotobacter trong đất. Azotobacterin chỉ có tác dụng tương đối rõ đối với các loại đất giàu chất hữu cơ hoặc trong trường hợp được bón thêm nhiều chất khoáng.

    - Clostridium pasteurianum: Tác dụng cố đinh N của C. pasteurianum thấp hơn Azotobacter . Cứ mỗi khi tiêu thụ 1g hydratcarbon thì chúng cố định được 2-3 mg N. Tuy nhiên C.Pasteurianum rất nhiều và phân bố rộng rãi hơn Azotobacter nên nguồn N mà chúng cố định cho đất là rất quan trọng. Chúng lại phát triển được ở ruộng ngập nước, yêu cầu pH không gắt gao nên thích hợp cho các loại ruộng của ta.

    - Ngoài hai loài trên, trong các VSV cố định N còn có một số vi khuẩn thuộc chi Clostridium, Bacillus Azotomonas . Tuy nhiên, vì những loài này phân bố không nhiều và hiệu lực cố định N cũng thấp nên tác dụng thực tế không lớn lắm.

    2. VSV cố định đạm cộng sinh:

    Phần lớn các cây thuộc họ đậu không cần thức ăn hợp chất, chúng có thể sử dụng được N không khí. Nhưng khả năng này không phải bản thân cây họ đậu có mà do những vi khuẩn nốt rễ cộng sinh với cây họ đậu mang lại.

    - Vi khuẩn nốt rễ: Giống (chi) Rhizobium (Franck, 1889) là loại vi khuẩn đơn bào ở đất. Khi hình thành nốt sần thì trực khuẩn biến dạng (có hiện tượng đa hình thái), nó thay đổi hình dạng tùy theo lứa tuổi và điều kiện sống. Khi còn non chúng là trực khuẩn nhỏ bé, không có bào tử, di động nhờ tiên mao. Trong quá trình phát triển, chúng sẽ chuyển thành hình cầu và những dạng phân nhánh hình chữ Y, chữ V gọi là giả khuẩn thể (Bacteroids).

    Năm 1963, Manil đã chia các vi khuẩn nốt sần thành 3 nhóm:
    - Rhizobium leguminosa (đậu Hà Lan), R. trifolii (cỏ ba lá), R.

    phaseoli (đậu cô ve, đậu xanh).

    - Rhizobium lupini (mục túc, linh lăng), gộp nhóm 1 và 2 thành Rhizobium mọc nhanh.

    - Rhizobium lupini (đậu đũa, lupin), R. Japonicum (đậu nành) với nhiều loài phụ. Nhóm này hiện nay được định loại là Bradyrhizobium (gồm tất cả các chủng mọc chậm).

    Hiện nay, người ta xếp vi khuẩn nốt rễ vào một chi chung là Rhizobium.Chúng có thể sử dụng nhiều hydratcarbon khác nhau làm nguồn C. Khi sống riêng lẻ trong đất hoặc trong môi trường nuôi cấy chúng không có khả năng cố định N. Về hô hấp, chúng là loại vi hiếu khí. Rhizobium có nhiều loài và có tính chất chuyên tính, nghĩa là mỗi loài chỉ có thể xâm nhập và tạo thành nốt rễ trong một số cây họ đậu nhất định. Vi khuẩn nốt rễ khi gặp cây họ đậu thích hợp sẽ xâm nhập vào tế bào rễ, kích thích rễ tạo thành những nốt rễ. Nốt rễ thường thường bằng hạt gạo, nốt rễ to bằng hạt đậu nhỏ, trong nốt rễ chứa đầy vi khuẩn. Sau khi hình thành nốt rễ giữa vi khuẩn và cây họ đậu làm thành một thể cộng sinh có lợi cho cả hai bên.

    Ngoài các cây họ đậu, một số rễ cây khác cũng có thể cộng sinh với vi khuẩn cố định N. Gần đây người ta còn thấy nốt sần ở lá một vài loài cây nhiệt đới. Trong nốt sần đó cũng chứa vi khuẩn cố định N gần giống ở rễ.

    Trong các loại vi sinh vật kể trên, vi khuẩn nốt rễ có ý nghĩa hết sức to lớn trong nông nghiệp. Cường độ cố định N cộng sinh lớn hơn nhiều so với cường độ cố định N không cộng sinh.
    Nitragin là loại phân được chế tạo bởi vi khuẩn Rhizobium do Beijerink phân lập năm 1888 và được Fred đặt tên vào năm 1889 dùng để bón cho các loại cây thích hợp của họ đậu. Cách sử dụng phân bón vi khuẩn nốt rễ là đem trộn phân với hạt giống, rồi để khô, sau đó đem gieo. Cũng có thể dùng nốt rễ tốt, nghiền nát để trộn với hạt giống.
    Ngoài hai nhóm vi khuẩn cố định N sống cộng sinh với thực vật và sống tự do trong đất như đã nói ở trên, còn một số vi khuẩn có khả năng cố định N sống trên bề mặt rễ và ăn sâu vào vào lớp tổ chức bề mặt rễ của một số cây hòa thảo như lúa, ngô, mía,... Đó là một loài vi khuẩn có dạng xoắn được phát hiện từ năm 1974 thuộc chi Azospirillum. Một số loài vi tảo đơn bào cũng có khả năng cố định N. Ví dụ như vi khuẩn lam sống tự do và sống cộng sinh trong bèo hoa dâu.

  • Tại sao phải bón phân hợp lý? Bón như thế nào là hợp lý?

    Họ tên: Do thi khieu
    Email: vuabanhmi210688@yahoo.com
    Địa chỉ:
    Trả lời:

    Chúng tôi đã trả lời cho câu hỏi này rồi, bạn có thể xem lại trong mục Hỏi đáp.

  • Cho em hỏi như thế nào gọi là rau sạch?

    Họ tên: nguyễn viết trung
    Email: htvt_1234@yahoo.com.vn
    Địa chỉ: daklak
    Trả lời:

    Khái niệm về “Rau an toàn” hay “Rau sạch”: “Rau an toàn” hay “Rau sạch” gần đây ngày càng được nhiều người quan tâm. Đã có khá nhiều trường hợp, người tiêu dùng sau khi ăn rau đã bị ngộ độc, và đã có trường hợp bị tử vong. Vậy rau an toàn là gì? Câu trả lời nôm na và đơn giản thì đó là rau mà người tiêu dùng ăn vào sẽ không bị ngộ độc, nghĩa là sử dụng thoải mái và an tâm. Vậy điều gì khiến cho rau trở nên mất an toàn? Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì có 4 tiêu chuẩn sau đây nếu vượt quá ngưỡng cho phép sẽ thuộc vào loại không an toàn, các nhóm chất đó là: 1/ Dư lượng thuốc hoá học (thuốc sâu, bệnh, thuốc cỏ). 2/ Số lượng vi sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh. 3/ Dư lượng đạm nitrát. 4/ Dư lượng các kim loại nặng (chì, thuỷ ngân, asêníc, kẽm, đồng...).Trong 4 nhóm trên thì nhóm 1 và 2 nếu có hàm lượng chứa trong rau vượt ngưỡng cho phép thì khi ăn vào sẽ bị ngộ độc tức thì, đa phần các trường hợp ngộ độc do ăn rau thường do nhóm 1 hay nhóm 2 gây ra. Ngộ độc do nhóm 3 và 4 phải tích luỹ đến một mức độ nào đó mới biểu hiện ra ngoài, nhưng khi đã biểu hiện ra ngoài rồi thì thường là khó chữa! Nguyên tắc để trồng rau sao cho dư lượng của 4 nhóm độc tố nói trên không vượt quá ngưỡng cho phép thật ra rất đơn giản. Cái khó là vì thói quen tích luỹ đã lâu, nay sửa chữa phải có thời gian. Nhưng đơn giản là chỉ cần làm theo khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật hay cán bộ khuyến nông là có thể đạt được. Đối với chất độc nhóm 1, ta chỉ cần hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh, trừ cỏ... chỉ sử dụng khi cần thiết. Muốn vậy phải làm theo hướng dẫn của qui trình IPM. Đặc biệt nhất là không dùng các loại thuốc đã cấm và ngưng sử dụng thuốc cho rau ít nhất là 10 ngày trước khi thu hoạch. Đối với chất độc thuộc nhóm 2 thì tuyệt đối không sử dụng phân tươi, kể cả phân gia súc, gia cầm chưa hoai. Không sử dụng phân người khi chưa chế biến kỹ. Không sử dụng nguồn nước thải của vùng gần bệnh viện để tưới cho rau. Phải rửa rau thật kỹ, nấu chín. Khi ăn các loại rau sống, cần ngâm qua thuốc tím hay nước muối. Đối với chất độc nhóm 3 cần chú ý không lạm dụng phân đạm, và kết thúc bón đạm cho rau trước khi thu hoạch cũng ít nhất 10-15 ngày. Lượng đạm nitrat cũng có liên quan chặt chẽ với chất độc nhóm 1. Bởi lẽ nếu rau có nhiều đạm sẽ thu hút sâu bệnh đến phá nhiều hơn. Người nông dân sẽ phun thuốc nhiều, vừa tốn tiền vừa bị độc hại mà chất lượng rau sẽ kém. Thiệt đơn thiệt kép. Đối với chất độc nhóm 4 thì chú ý chất đất. Có vùng chứa nhiều kím loại nặng thì không nên trồng rau (phải hỏi cán bộ khoa học đất, phân). Không bón các chất thải công nghiệp, kể cả các loại phân rác chưa được chế biến cẩn thận. Để có kiến thức sâu hơn về rau an toàn, bà con có thể tìm đọc cuốn "Những cây rau gia vị phổ biến ở nước ta" do tác giả chủ biên (Nhà xuất bản Nông nghiệp tái bản lần thứ 4). Chúc cho những người trồng rau ngày càng thu được lợi nhuận và hiệu quả mong muốn.
    GS. TS. Mai Văn Quyền

  • Cho tôi hỏi:nồng độ ppm là gi?

    Họ tên: nguyễn viết trung
    Email: htvt_1234@yahoo.com.vn
    Địa chỉ: daklak
    Trả lời:

    ppm là một đơn vị đo lường. nhằm xác địch các mật độ tương đối thấp.

    Nó thường chỉ tỷ lệ của lượng một chất trong tổng số lượng của hỗn hợp chứa chất đó. Ở đây lượng có thể hiểu là khối lượng , thể tích , số hạt (số mol),... Khi dùng cần chỉ rõ lượng là gì.

    Giá trị của ppm là:

    ppm = 1/1 000 000 = 10-4%

    Chữ ppm xuất phát từ tiếng Anh parts per million nghĩa là 1 phần triệu.

  • gibberellin là gi? dược chiết xuất từ đâu, dùng để làm gì?

    Họ tên: vu thi hien
    Email: vuthihien1976@yahoo.com.vn
    Địa chỉ: 43/34 thong nhat
    Trả lời:

    Gibberellin là nhóm hormone quan trọng thứ hai ở thực vật. Gibberellin được các nhà khoa học Nhật phát hiện lần đầu tiên ở loài nấm gây bệnh lúa von (Gibberellin fujcoroi). Có nhiều loại Gibberellin khác nhau, v ào thời điểm năm 2003, đã có 126 chất gibberellin được biết đến từ thực vật, nấm, vi khuẩn, trong đó axít gibberellin hay còn gọi là gibberellin A3 hay Giberelin X, GA3 là chất có tác dụng sinh học lớn nhất.

    Những gibberellin A2, A10 đến A15, A24 và A25 chỉ tách được từ nấm Fusarium moniliforme; các gibberellin A5, A6, A8, A16 đến A23, A26 đến A32 chỉ thấy ở thực vật bậc cao, còn gibberellin A1, A3, A4, A7 và A9 thấy có cả ở nấm Fusarium moniliforme và thực vật bậc cao.

    Gibberellin có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của thực vật:
    - Kích thích sự sinh trưởng của tế bào, qua đó kích thích sự sinh trưởng của các cơ quan và cơ thể.
    - Kích thích quá trình nảy mầm, phá trạng thái ngủ của hạt, củ.
    - Kích thích sự ra hoa của cây ngày dài.
    - Kích thích các hoạt động sinh lý, các quá trình trao đổi chất và năng lượng của cơ thể.



  • Đặt Câu Hỏi
    Họ tên
    Email
    Địa chỉ
    Chuyên mục
    Câu hỏi
     
    Lưu ý: Để nội dung câu hỏi được rõ ràng, Quý khách vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.
    Website mặc định hỗ trợ font chữ Unicode.

    Top

    TẢI ỨNG DỤNG CANH TÁC THÔNG MINH TẠI ĐÂY