Rủi ro thời tiết, sâu bệnh dồn vào giai đoạn trỗ lúa đông xuân

Cục Trồng trọt và BVTV đề nghị các địa phương bám sát đồng ruộng, theo dõi thời tiết để xử lý kịp thời, đảm bảo nguồn nước và phòng trừ sâu bệnh đúng thời điểm.

Sáng 21/4 tại Phú Thọ, Cục Trồng trọt và BVTV tổ chức hội nghị đánh giá tình hình sinh vật gây hại chính giai đoạn đầu vụ và bàn giải pháp phòng chống sinh vật gây hại chính trên lúa giai đoạn cuối vụ đông xuân 2025 - 2026 các tỉnh phía Bắc.

Vụ đông xuân 2025 - 2026 tại các tỉnh phía Bắc diễn ra trong điều kiện thời tiết ấm hơn trung bình nhiều năm. Rét đậm, rét hại tập trung ngắn trong tháng 1 và nửa đầu tháng 2, sau đó chuyển sang trạng thái ẩm, có mưa phùn xen kẽ nắng và xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa đá, giông lốc cuối tháng 3, ảnh hưởng cục bộ đến sản xuất nông nghiệp.

Tổng diện tích gieo cấy lúa các tỉnh phía Bắc vụ đông xuân đạt gần 700.000ha, giảm hơn 16.000ha so với vụ trước do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất. Các trà lúa sinh trưởng nhìn chung thuận lợi, phát triển tốt, thời gian trỗ tương đương năm trước.

Ông Nguyễn Văn Quân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.Ông Nguyễn Văn Quân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.

Áp lực sâu bệnh tăng cuối vụ

Theo bà Dương Thị Ngà, Phó Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phía Bắc (Cục Trồng trọt và BVTV), diễn biến sinh vật gây hại đầu vụ đông xuân năm nay có xu hướng phức tạp. Một số đối tượng chính có mật độ và diện tích nhiễm tăng so với cùng kỳ.

Bệnh đạo ôn lá xuất hiện từ trung tuần tháng 2, gây hại trên nhiều giống nhiễm với tỷ lệ phổ biến 1 - 3%, cục bộ có nơi lên tới 80 - 90% số lá. Sâu cuốn lá nhỏ lứa 1 phát sinh mạnh, diện tích nhiễm hơn 48.000ha, cao hơn năm trước, mật độ sâu non có nơi lên tới 200 - 300 con/m2. Rầy nâu và rầy lưng trắng xuất hiện sớm, mật độ cục bộ ghi nhận tới 1.000 - 2.000 con/m2.

Các đối tượng khác như sâu đục thân hai chấm, ốc bươu vàng, chuột và bệnh khô vằn tiếp tục gây hại diện rộng, trong đó ốc bươu vàng có diện tích nhiễm gần 29.000ha, bệnh khô vằn có nơi gây hại tới 70 - 80% số lá .

Từ nay đến cuối vụ, bà Ngà nhận định áp lực dịch hại sẽ tăng do điều kiện thời tiết thuận lợi cho sâu bệnh phát triển. Bệnh đạo ôn cổ bông có nguy cơ bùng phát trên các diện tích đã nhiễm đạo ôn lá trước đó, đặc biệt ở trà lúa trỗ sớm. Sâu cuốn lá nhỏ lứa 2 và lứa 3 dự báo là lứa gây hại chính, mật độ tại vùng đồng bằng có thể đạt 30 - 50 con/m2, cục bộ tới 300 - 500 con/m2.

Rầy nâu và rầy lưng trắng có khả năng bùng phát thành ổ dịch lớn, mật độ có thể lên tới hàng vạn con/m2 nếu không kiểm soát kịp thời. Sâu đục thân hai chấm sẽ gây bông bạc trên diện tích lúa trỗ trong tháng 5, trong khi bệnh khô vằn, bạc lá và chuột tiếp tục tăng mức độ gây hại.

Phó Cục trưởng Nguyễn Quý Dương: 'Từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5 là giai đoạn quyết định năng suất lúa đông xuân'. Ảnh: Bảo Thắng.Phó Cục trưởng Nguyễn Quý Dương: "Từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5 là giai đoạn quyết định năng suất lúa đông xuân". Ảnh: Bảo Thắng.

Trên cơ sở đó, ông Trần Quyết Tâm, Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và BVTV phía Bắc đề nghị địa phương chủ động, quyết liệt hơn trong công tác chỉ đạo phòng trừ dịch hại giai đoạn cuối vụ. Trọng tâm là đảm bảo đủ nước cho lúa giai đoạn làm đòng, trỗ bông, hạn chế bón thừa đạm nhằm giảm áp lực sâu bệnh. Các địa phương tăng cường kiểm tra đồng ruộng, bám sát diễn biến dịch hại để dự báo sớm, xử lý kịp thời, tránh để phát sinh thành dịch lớn.

Ông Tâm cũng đề nghị hệ thống chuyên môn các cấp chủ động tham mưu chính quyền địa phương xây dựng phương án ứng phó trong điều kiện thời tiết cực đoan, đồng thời hướng dẫn nông dân áp dụng biện pháp phòng trừ theo nguyên tắc “4 đúng”.

Giải pháp cụ thể với từng đối tượng dịch hại phải được triển khai linh hoạt, từ theo dõi thời điểm trỗ để phòng đạo ôn cổ bông, điều tra mật độ sâu cuốn lá nhỏ theo từng lứa đến xử lý sớm rầy tuổi nhỏ và tổ chức diệt chuột thường xuyên.

"Hiệu quả phòng trừ dịch hại cuối vụ phụ thuộc vào sự chủ động của địa phương và việc tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, quản lý", ông Tâm bày tỏ.

Ông Trần Quyết Tâm, Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phía Bắc phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.Ông Trần Quyết Tâm, Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phía Bắc phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.

Giữ vững năng suất trong điều kiện thời tiết bất lợi

Ông Nguyễn Hồng Yến, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Phú Thọ cho biết, sâu bệnh vụ đông xuân năm nay xuất hiện sớm hơn nhiều năm. Đáng chú ý, bệnh bạc lá và bệnh sọc vi khuẩn phát sinh ngay từ đầu vụ, trong khi bệnh đạo ôn tiếp tục được xác định là đối tượng nguy hiểm cần theo dõi đến cuối vụ.

"Khó khăn trong chỉ đạo sản xuất hiện nay là hệ thống theo dõi, cập nhật số liệu từ cơ sở chưa đảm bảo. Sau khi tổ chức lại bộ máy, nhiều xã chưa thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, chỉ khoảng 1/3 số đơn vị gửi số liệu đúng thời hạn", ông Yến cho hay.

Trong khi đó, sâu cuốn lá lứa 1 đã gây áp lực tại các vùng ven biển thuộc Ninh Bình như Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, có nơi phải tổ chức phòng trừ trên toàn bộ diện tích nhiễm. Bệnh khô vằn phát sinh ở mức nhẹ nhưng đã bắt đầu gây hại rõ tại một số nơi. Rầy nâu, rầy lưng trắng năm nay xuất hiện lệch lứa so với sâu cuốn lá nhỏ nên việc phòng trừ phải tính toán để đạt hiệu quả cao hơn.

Địa phương còn phải đối mặt với bệnh lùn sọc đen - đối tượng từng gây hại mạnh trong quá khứ. Chuột hại cũng có xu hướng tăng ở các nơi gần khu công nghiệp

"Giai đoạn cuối vụ, Ninh Bình sẽ tập trung vào 3 nhóm đối tượng chính là đạo ôn cổ bông, sâu cuốn lá nhỏ lứa 2 và bạc lá", ông Nguyễn Quốc Việt, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Ninh Bình nói. Với sâu cuốn lá nhỏ lứa 2, địa phương dự kiến khoanh vùng phòng trừ vào cuối tháng 4, đầu tháng 5, đúng thời điểm lúa làm đòng - trỗ nhưng sẽ không phun tràn lan mà chỉ xử lý đúng diện tích cần thiết. 

Nông dân Quảng Trị phun thuốc phòng trừ sâu bệnh cho lúa đông xuân. Ảnh: Nguyên Phong.Nông dân Quảng Trị phun thuốc phòng trừ sâu bệnh cho lúa đông xuân. Ảnh: Nguyên Phong.

Ghi nhận sự chủ động của các địa phương và hướng dẫn của Trung tâm Trồng trọt và BVTV phía Bắc, ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và BVTV đề nghị tập trung cao cho chỉ đạo sản xuất lúa, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng ngành nông nghiệp.

"Từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5 là giai đoạn quyết định năng suất, trùng với kỳ lúa trỗ và cũng rơi vào dịp nghỉ lễ kéo dài", ông Dương phát biểu và nhấn mạnh biện pháp quan trọng nhất vẫn là tăng cường điều tra, dự tính, dự báo và bám sát đồng ruộng. Bởi theo ông, không có cách nào hiệu quả hơn việc nắm tình hình trực tiếp tại ruộng trong bối cảnh hệ thống cơ sở còn nhiều xáo trộn.

Một trong những nội dung then chốt là đảm bảo đủ nước cho lúa trong giai đoạn trỗ. Nếu gặp nắng nóng kéo dài, thiếu nước sẽ làm giảm tỷ lệ thụ phấn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất. Ngược lại, điều kiện thời tiết âm u, ẩm thấp lại làm tăng nguy cơ bệnh đạo ôn cổ bông.

Cùng với đó, công tác phòng trừ sâu bệnh được đặt ở mức cảnh giác cao. Bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá và sâu cuốn lá nhỏ được dự báo có nguy cơ phát sinh mạnh trong điều kiện thời tiết hiện nay. Do đó, ông Dương lưu ý sử dụng phân bón phải cân đối, hạn chế bón thừa đạm, nhất là trên các giống mẫn cảm, tránh làm tăng nguy cơ sâu bệnh.

Với sâu cuốn lá nhỏ, lứa 2 được xác định trùng với thời điểm lúa trỗ, có thể gây hại trực tiếp đến bộ lá đòng. Dù dự báo mức độ nhẹ hơn năm 2025, địa phương vẫn phải chủ động theo dõi, đặc biệt ở khu vực ven biển.

Hệ thống cảnh báo thời tiết và sâu bệnh cần được khai thác hiệu quả. Việc dự báo trước 3 - 5 ngày được coi là “cửa sổ vàng” để triển khai phòng trừ, giúp nâng hiệu quả và giảm chi phí sản xuất. "Kinh nghiệm thực tế cho thấy nếu xử lý đúng thời điểm, hiệu quả phòng trừ có thể đạt tới 70%", ông Nguyễn Quý Dương khuyến nghị và đề nghị các bên tăng cường phối hợp, duy trì chế độ báo cáo liên tục, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm. 

Bảo Thắng

Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/

Bảng giá nông sản

Hạt mắc ca70.000
Ca cao180.000
Cao su148.000
Gạo IR 50412.500
Cà phê125.600
Bơ sáp25.000
Sầu riêng Ri đẹp65.000
Điều40.000
Hồ tiêu119.000

[Xem tiếp]

Hỏi đáp

Bình Điền giải đáp các câu hỏi về việc sử dụng phân bón và phòng trừ sâu bệnh cho nhà nông.

Đặt câu hỏiXem câu hỏi

 

Tỷ giá Ngoại tệ

 


Top

TẢI ỨNG DỤNG CANH TÁC THÔNG MINH TẠI ĐÂY

Rủi ro thời tiết, sâu bệnh dồn vào giai đoạn trỗ lúa đông xuân

Cục Trồng trọt và BVTV đề nghị các địa phương bám sát đồng ruộng, theo dõi thời tiết để xử lý kịp thời, đảm bảo nguồn nước và phòng trừ sâu bệnh đúng thời điểm.

Sáng 21/4 tại Phú Thọ, Cục Trồng trọt và BVTV tổ chức hội nghị đánh giá tình hình sinh vật gây hại chính giai đoạn đầu vụ và bàn giải pháp phòng chống sinh vật gây hại chính trên lúa giai đoạn cuối vụ đông xuân 2025 - 2026 các tỉnh phía Bắc.

Vụ đông xuân 2025 - 2026 tại các tỉnh phía Bắc diễn ra trong điều kiện thời tiết ấm hơn trung bình nhiều năm. Rét đậm, rét hại tập trung ngắn trong tháng 1 và nửa đầu tháng 2, sau đó chuyển sang trạng thái ẩm, có mưa phùn xen kẽ nắng và xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa đá, giông lốc cuối tháng 3, ảnh hưởng cục bộ đến sản xuất nông nghiệp.

Tổng diện tích gieo cấy lúa các tỉnh phía Bắc vụ đông xuân đạt gần 700.000ha, giảm hơn 16.000ha so với vụ trước do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất. Các trà lúa sinh trưởng nhìn chung thuận lợi, phát triển tốt, thời gian trỗ tương đương năm trước.

Ông Nguyễn Văn Quân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.Ông Nguyễn Văn Quân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.

Áp lực sâu bệnh tăng cuối vụ

Theo bà Dương Thị Ngà, Phó Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phía Bắc (Cục Trồng trọt và BVTV), diễn biến sinh vật gây hại đầu vụ đông xuân năm nay có xu hướng phức tạp. Một số đối tượng chính có mật độ và diện tích nhiễm tăng so với cùng kỳ.

Bệnh đạo ôn lá xuất hiện từ trung tuần tháng 2, gây hại trên nhiều giống nhiễm với tỷ lệ phổ biến 1 - 3%, cục bộ có nơi lên tới 80 - 90% số lá. Sâu cuốn lá nhỏ lứa 1 phát sinh mạnh, diện tích nhiễm hơn 48.000ha, cao hơn năm trước, mật độ sâu non có nơi lên tới 200 - 300 con/m2. Rầy nâu và rầy lưng trắng xuất hiện sớm, mật độ cục bộ ghi nhận tới 1.000 - 2.000 con/m2.

Các đối tượng khác như sâu đục thân hai chấm, ốc bươu vàng, chuột và bệnh khô vằn tiếp tục gây hại diện rộng, trong đó ốc bươu vàng có diện tích nhiễm gần 29.000ha, bệnh khô vằn có nơi gây hại tới 70 - 80% số lá .

Từ nay đến cuối vụ, bà Ngà nhận định áp lực dịch hại sẽ tăng do điều kiện thời tiết thuận lợi cho sâu bệnh phát triển. Bệnh đạo ôn cổ bông có nguy cơ bùng phát trên các diện tích đã nhiễm đạo ôn lá trước đó, đặc biệt ở trà lúa trỗ sớm. Sâu cuốn lá nhỏ lứa 2 và lứa 3 dự báo là lứa gây hại chính, mật độ tại vùng đồng bằng có thể đạt 30 - 50 con/m2, cục bộ tới 300 - 500 con/m2.

Rầy nâu và rầy lưng trắng có khả năng bùng phát thành ổ dịch lớn, mật độ có thể lên tới hàng vạn con/m2 nếu không kiểm soát kịp thời. Sâu đục thân hai chấm sẽ gây bông bạc trên diện tích lúa trỗ trong tháng 5, trong khi bệnh khô vằn, bạc lá và chuột tiếp tục tăng mức độ gây hại.

Phó Cục trưởng Nguyễn Quý Dương: 'Từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5 là giai đoạn quyết định năng suất lúa đông xuân'. Ảnh: Bảo Thắng.Phó Cục trưởng Nguyễn Quý Dương: "Từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5 là giai đoạn quyết định năng suất lúa đông xuân". Ảnh: Bảo Thắng.

Trên cơ sở đó, ông Trần Quyết Tâm, Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và BVTV phía Bắc đề nghị địa phương chủ động, quyết liệt hơn trong công tác chỉ đạo phòng trừ dịch hại giai đoạn cuối vụ. Trọng tâm là đảm bảo đủ nước cho lúa giai đoạn làm đòng, trỗ bông, hạn chế bón thừa đạm nhằm giảm áp lực sâu bệnh. Các địa phương tăng cường kiểm tra đồng ruộng, bám sát diễn biến dịch hại để dự báo sớm, xử lý kịp thời, tránh để phát sinh thành dịch lớn.

Ông Tâm cũng đề nghị hệ thống chuyên môn các cấp chủ động tham mưu chính quyền địa phương xây dựng phương án ứng phó trong điều kiện thời tiết cực đoan, đồng thời hướng dẫn nông dân áp dụng biện pháp phòng trừ theo nguyên tắc “4 đúng”.

Giải pháp cụ thể với từng đối tượng dịch hại phải được triển khai linh hoạt, từ theo dõi thời điểm trỗ để phòng đạo ôn cổ bông, điều tra mật độ sâu cuốn lá nhỏ theo từng lứa đến xử lý sớm rầy tuổi nhỏ và tổ chức diệt chuột thường xuyên.

"Hiệu quả phòng trừ dịch hại cuối vụ phụ thuộc vào sự chủ động của địa phương và việc tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, quản lý", ông Tâm bày tỏ.

Ông Trần Quyết Tâm, Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phía Bắc phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.Ông Trần Quyết Tâm, Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phía Bắc phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng.

Giữ vững năng suất trong điều kiện thời tiết bất lợi

Ông Nguyễn Hồng Yến, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Phú Thọ cho biết, sâu bệnh vụ đông xuân năm nay xuất hiện sớm hơn nhiều năm. Đáng chú ý, bệnh bạc lá và bệnh sọc vi khuẩn phát sinh ngay từ đầu vụ, trong khi bệnh đạo ôn tiếp tục được xác định là đối tượng nguy hiểm cần theo dõi đến cuối vụ.

"Khó khăn trong chỉ đạo sản xuất hiện nay là hệ thống theo dõi, cập nhật số liệu từ cơ sở chưa đảm bảo. Sau khi tổ chức lại bộ máy, nhiều xã chưa thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, chỉ khoảng 1/3 số đơn vị gửi số liệu đúng thời hạn", ông Yến cho hay.

Trong khi đó, sâu cuốn lá lứa 1 đã gây áp lực tại các vùng ven biển thuộc Ninh Bình như Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, có nơi phải tổ chức phòng trừ trên toàn bộ diện tích nhiễm. Bệnh khô vằn phát sinh ở mức nhẹ nhưng đã bắt đầu gây hại rõ tại một số nơi. Rầy nâu, rầy lưng trắng năm nay xuất hiện lệch lứa so với sâu cuốn lá nhỏ nên việc phòng trừ phải tính toán để đạt hiệu quả cao hơn.

Địa phương còn phải đối mặt với bệnh lùn sọc đen - đối tượng từng gây hại mạnh trong quá khứ. Chuột hại cũng có xu hướng tăng ở các nơi gần khu công nghiệp

"Giai đoạn cuối vụ, Ninh Bình sẽ tập trung vào 3 nhóm đối tượng chính là đạo ôn cổ bông, sâu cuốn lá nhỏ lứa 2 và bạc lá", ông Nguyễn Quốc Việt, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Ninh Bình nói. Với sâu cuốn lá nhỏ lứa 2, địa phương dự kiến khoanh vùng phòng trừ vào cuối tháng 4, đầu tháng 5, đúng thời điểm lúa làm đòng - trỗ nhưng sẽ không phun tràn lan mà chỉ xử lý đúng diện tích cần thiết. 

Nông dân Quảng Trị phun thuốc phòng trừ sâu bệnh cho lúa đông xuân. Ảnh: Nguyên Phong.Nông dân Quảng Trị phun thuốc phòng trừ sâu bệnh cho lúa đông xuân. Ảnh: Nguyên Phong.

Ghi nhận sự chủ động của các địa phương và hướng dẫn của Trung tâm Trồng trọt và BVTV phía Bắc, ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và BVTV đề nghị tập trung cao cho chỉ đạo sản xuất lúa, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng ngành nông nghiệp.

"Từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5 là giai đoạn quyết định năng suất, trùng với kỳ lúa trỗ và cũng rơi vào dịp nghỉ lễ kéo dài", ông Dương phát biểu và nhấn mạnh biện pháp quan trọng nhất vẫn là tăng cường điều tra, dự tính, dự báo và bám sát đồng ruộng. Bởi theo ông, không có cách nào hiệu quả hơn việc nắm tình hình trực tiếp tại ruộng trong bối cảnh hệ thống cơ sở còn nhiều xáo trộn.

Một trong những nội dung then chốt là đảm bảo đủ nước cho lúa trong giai đoạn trỗ. Nếu gặp nắng nóng kéo dài, thiếu nước sẽ làm giảm tỷ lệ thụ phấn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất. Ngược lại, điều kiện thời tiết âm u, ẩm thấp lại làm tăng nguy cơ bệnh đạo ôn cổ bông.

Cùng với đó, công tác phòng trừ sâu bệnh được đặt ở mức cảnh giác cao. Bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá và sâu cuốn lá nhỏ được dự báo có nguy cơ phát sinh mạnh trong điều kiện thời tiết hiện nay. Do đó, ông Dương lưu ý sử dụng phân bón phải cân đối, hạn chế bón thừa đạm, nhất là trên các giống mẫn cảm, tránh làm tăng nguy cơ sâu bệnh.

Với sâu cuốn lá nhỏ, lứa 2 được xác định trùng với thời điểm lúa trỗ, có thể gây hại trực tiếp đến bộ lá đòng. Dù dự báo mức độ nhẹ hơn năm 2025, địa phương vẫn phải chủ động theo dõi, đặc biệt ở khu vực ven biển.

Hệ thống cảnh báo thời tiết và sâu bệnh cần được khai thác hiệu quả. Việc dự báo trước 3 - 5 ngày được coi là “cửa sổ vàng” để triển khai phòng trừ, giúp nâng hiệu quả và giảm chi phí sản xuất. "Kinh nghiệm thực tế cho thấy nếu xử lý đúng thời điểm, hiệu quả phòng trừ có thể đạt tới 70%", ông Nguyễn Quý Dương khuyến nghị và đề nghị các bên tăng cường phối hợp, duy trì chế độ báo cáo liên tục, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm. 

Bảo Thắng

Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/

Hotline 1900 6613 Chat với chúng tôi qua Messenger Chat với chúng tôi qua Zalo Fanpage Bình Điền BFC Kênh Youtube Bình Điền BFC