Năm 2011: ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tập trung xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội
(29/12/2010) - Sáng ngày 27/12/2010 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức hội nghị Triển khai kế hoạch năm 2011 và kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Năm 2010, năm cuối cùng thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Đầu năm khô hạn xảy ra gay gắt trên diện rộng ở miền Bắc và miền Trung, nước mặn xâm nhập sâu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; tháng 10, 11 liên tục xảy ra 3 trận lũ lụt lớn ở miền Trung; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi xảy ra ở nhiều địa phương với diễn biến phức tạp, nạn cháy rừng và chặt phá rừng trái pháp luật vẫn còn xảy ra nhiều; giá cả nguyên liệu, vật tư đầu vào tăng cao. Nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của Đảng, Quốc hội, Chính phủ sự hỗ trợ hiệu quả của các ngành và sự nỗ lực cao của toàn ngành nên nông nghiệp, nông thôn nước ta tiếp tục phát triển khá toàn diện, nhiều chỉ tiêu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2009 và vượt mức kế hoạch đề ra.
Cụ thể, tốc độ tăng trưởng của ngành năm 2010 đạt 2,8% (năm 2009 đạt 1,83%). Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 3,36%/năm, vượt mức mục tiêu 3 - 3,2%/năm của Đại hội Đảng X đề ra và kế hoạch phát triển 5 năm của ngành. Giá trị sản xuất toàn ngành ước tăng 4,69%, bình quân tăng 4,93%/năm (mục tiêu kế hoạch là 4,5%) trong giai đoạn 2006 - 2010.
Năm 2010, công tác chỉ đạo sản xuất đã tập trung hướng dẫn nông dân điều chỉnh cơ cấu cây trồng, thời vụ phù hợp với diễn biến của thời tiết và né tránh sâu bệnh, tăng cường sử dụng giống mới, thâm canh, tăng năng suất nên sản xuất lúa được mùa. Sản lượng lúa cả năm ước đạt 39,8 triệu tấn, diện tích gieo trồng tăng 23 nghìn tấn so với năm 2009. Ngoài đảm bảo an ninh lương thực trong nước, đã xuất khẩu 6,7 triệu tấn gạo, tăng 750 nghìn tấn so với năm trước. Diện tích ngô ước 1,1 triệu ha, sản lượng 4,620 triệu tấn; sản lượng sắn 10,9 triệu tấn. Diện tích gieo trồng cây công nghiệp ngắn ngày 658 nghìn ha; rau đậu các loại 960 nghìn ha. Cây công nghiệp lâu năm gồm: chè búp tươi 809,6 nghìn tấn, cao su 761,1 nghìn tấn, cà phê 1.084 nghìn tấn, cây điều 286 nghìn tấn.
Sản xuất chăn nuôi tiếp tục phát triển thông qua nhân rộng hình thức trang trại, công nghiệp, sử dụng giống tốt, đảm bảo an toàn dịch bệnh, hiệu quả chăn nuôi khá. Năm 2010 được đánh giá là năm khó khăn nhất của chăn nuôi. Tuy nhiên, theo số liệu điều tra chăn nuôi, sản lượng thịt hơi các loại năm 2010 đạt 4,02 triệu tấn, tăng 6,3%. Dự kiến, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi cả năm đạt 7%.
Trong giai đoạn 2006 - 2010, diện tích rừng trồng mới đạt 1.091 nghìn ha, trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng 252.015 ha, diện tích bảo vệ rừng 2.507.355 ha, diện tích khoanh nuôi 922.768 ha. Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 4%, cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Độ che phủ rừng đã tăng từ 37,1% năm 2005 lên 39,5% trong năm 2010, tăng 2,4% cả giai đoạn 2006 - 2010. Sản lượng khai thác thủy sản ước 2.395 nghìn tấn, trong đó khai thác biển 2.255 nghìn tấn, sản lượng khai thác thủy sản tăng 407 nghìn tấn giai đoạn 2006 - 2010, bình quân tăng 81.400 tấn/năm. Sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 2.800 nghìn tấn. Tổng sản lượng thủy sản cả năm 2010 5.195 nghìn tấn tăng 30% so với mục tiêu kế hoạch 5 năm 2006 - 2010.
Mục tiêu chủ yếu của toàn ngành năm 2011 là nỗ lực phấn đấu, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh nhằm duy trì mức tăng trưởng cao để góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung cho nền kinh tế, góp phần kiềm chế lạm phát; tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và sức cạnh tranh. Triển khai các nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới đi đôi với bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện điều kiện sống của dân cư nông thôn, nhất là người nghèo.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh, vượt qua những khó khăn chung của cả nước, năm 2010 và giai đoạn 5 năm qua ngành nông nghiệp đã hoàn thành vượt mức kế hoạch trên các lĩnh vực, nông thôn có nhiều đổi mới tích cực. Trong giai đoạn tới, hướng phát triển của nông nghiệp là sản xuất hàng hóa lớn với công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh và thu nhập cho người dân.
Trong 5 năm 2011 - 2015 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tiếp tục triển khai Nghị quyết “Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn” nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh của ngành nông nghiệp và cho mục tiêu xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới. Cần đặc biệt quan tâm tới công tác phát triển quy hoạch trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, công nghiệp chế biến, dân cư… Quy hoạch hạ tầng nông nghiệp phải kết hợp xây dựng giao thông và thủy lợi chặt chẽ, bảo đảm hiệu suất công trình cao, có tính dài hạn và thích ứng với vấn đề biến đổi khí hậu. Ngành nông nghiệp cần đẩy mạnh sản xuất toàn diện, với hướng phát triển là ngành sản xuất hàng hóa lớn bằng nhiều mô hình, phương thức kết hợp khoa học công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp phù hợp với phát triển kinh tế nói chung, nâng cao sức cạnh tranh và thu nhập cho người dân. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi đối với chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm thúc đẩy nông thôn phát triển. Đây là cuộc vận động toàn dân, làm vì lợi ích của dân, cần tính toán lựa chọn các tiêu chí phù hợp để ưu tiên đầu tư.
Một số chỉ tiêu tăng trưởng chính của ngành trong năm 2011 - 2015:
-
GDP toàn ngành tăng trung bình từ 3,5 - 3,8%. Riêng năm 2011, GDP tăng 3,5%, giá trị sản xuất tăng 4,55% so với năm 2010.
-
Đến năm 2015, có 20% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới, giảm tỷ lệ nghèo
ở nông thôn xuống còn 7%, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp
vệ sinh đạt 95%.
1. Tăng trưởng kinh tế ngành cao, bền vững và có chất lượng thông qua năng suất, sức cạnh tranh và chất lượng sản phẩm.
2. Cải thiện mức sống và điều kiện sống dân cư nông thôn, đặc biệt là người nghèo.
3. Phát triển hệ thống hạ tầng đáp ứng kịp thời yêu cầu sản xuất, đời sống.
4. Nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
5. Sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên tự nhiên và môi trường bền vững có hiệu quả.
6. Nâng cao năng lực, thể chế để quản lý ngành năng động có hiệu quả.















