Doanh nghiệp và địa phương đồng lòng triển khai Đề án trồng trọt giảm phát thải
Ngày 18/5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị Ban Chỉ đạo triển khai Đề án 'Sản xuất trồng trọt giảm phát thải giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050'.
Tại hội nghị, các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và lãnh đạo ngành Nông nghiệp và Môi trường thể hiện quyết tâm triển khai Đề án "Sản xuất trồng trọt giảm phát thải giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050".
Ông Nguyễn Trí Ngọc, Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam:
Đề án có ý nghĩa rất lớn đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường
Triển khai Đề án "Sản xuất trồng trọt giảm phát thải giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050" rất đúng đắn và kịp thời của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Điều này góp phần khẳng định vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế. Dù trong những giai đoạn khó khăn nhất, nông nghiệp vẫn là niềm tự hào nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm lớn.
Ông Nguyễn Trí Ngọc, Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Ảnh: Bá Thắng.
Để Đề án thành công cần huy động sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống, không chỉ riêng ngành trồng trọt, bởi đây là lĩnh vực có đóng góp rất lớn cho nông nghiệp và xuất khẩu của đất nước.
Để phát huy hiệu quả phối hợp, 3 hiệp hội gồm Hiệp hội Phân bón, Hiệp hội Giống cây trồng và Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật đã ký kết hợp tác với Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Đây là cam kết thể hiện quyết tâm đồng hành cùng Bộ trong thực hiện mục tiêu giảm phát thải.
Tuy nhiên, chúng tôi mong Bộ tiếp tục phân cấp mạnh hơn, giao nhiệm vụ cụ thể cho các hiệp hội và tổ chức xã hội để cùng tham gia triển khai các chương trình lớn của ngành.
Theo các chỉ đạo của Chính phủ và các quy định mới như Nghị định 22/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, việc xây dựng và hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật cũng đã được mở rộng cho các hiệp hội, tổ chức tham gia nghiên cứu, góp phần ban hành tiêu chuẩn phù hợp với thực tiễn và hội nhập quốc tế.
Vì vậy, chúng tôi kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao thêm nhiệm vụ cụ thể để các hiệp hội có thể phối hợp chặt chẽ hơn với cơ quan quản lý nhà nước.
Chúng tôi cũng đã chủ động làm việc với UBND tỉnh Sơn La. Trong đó, chúng tôi đề xuất đưa cây cà phê sau lúa vào chương trình giảm phát thải và nâng cao chất lượng, lấy Sơn La - thủ phủ cà phê Arabica - làm điểm triển khai. Chúng tôi cam kết với Sơn La cùng thực hiện một số mô hình giảm phát thải khí nhà kính, tăng năng suất, tăng chất lượng và theo chuỗi giá trị từ trồng trọt, thu mua, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm theo hướng giảm phát thải khí nhà kính.
Sau khi Đề án lúa chất lượng cao đã được phê duyệt và triển khai, chúng tôi kiến nghị Bộ xem xét thành lập Ban chỉ đạo hoặc chương trình riêng về giảm phát thải đối với cây cà phê trên phạm vi toàn quốc. Cà phê hiện có giá trị xuất khẩu gần 9 tỷ USD, là cây trồng quan trọng và còn nhiều tiềm năng phát triển.
Đối với Đề án giảm phát thải trong sản xuất lúa, hiện nay đã đạt một số kết quả tích cực, nhưng chủ yếu mới tập trung ở khu vực phía Nam. Chúng tôi đề xuất mở rộng triển khai ra khu vực phía Bắc và toàn quốc.
Với vai trò của các tổ chức xã hội, chúng tôi đã kết nối được các doanh nghiệp cung ứng đầu vào và đầu ra. Trên cơ sở hợp tác với Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, chúng tôi kiến nghị nhân rộng mô hình, triển khai thí điểm ngay tại các tỉnh phía Bắc, là Ninh Bình và Hải Phòng.
Chúng tôi cho rằng đây là một đề án có ý nghĩa rất lớn đối với ngành nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng. Nếu được triển khai đồng bộ, bài bản và quyết liệt, không chỉ các cây trồng chủ lực mà nhiều loại cây trồng khác cũng sẽ được hưởng lợi.
Mỗi địa phương có thế mạnh riêng, vì vậy cần lựa chọn cây trồng phù hợp để triển khai trước. Nếu được triển khai đồng bộ, chúng tôi nghĩ sẽ tạo ra một khí thế chuyển đổi tích cực và hiệu quả đối với các địa phương trên phạm vi toàn quốc.
Thách thức lớn nằm ở mở rộng quy mô
Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam cho biết, sau hơn 2 năm triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh tại ĐBSCL, nhiều mô hình đã cho kết quả tích cực nhưng vẫn gặp không ít khó khăn trong mở rộng quy mô, đặc biệt ở khâu tổ chức thực hiện, tài chính và tín dụng.
Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam. Ảnh: Bá Thắng.
Theo ông, kinh nghiệm từ đề án này có thể trở thành nền tảng để triển khai chương trình sản xuất trồng trọt giảm phát thải trên phạm vi cả nước.
Hiệp hội hiện tham gia xây dựng các mô hình liên kết vùng nguyên liệu, đồng thời ứng dụng công cụ số hóa để đánh giá mức độ tuân thủ quy trình sản xuất lúa giảm phát thải theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Một số địa phương đã tích hợp dữ liệu này với hệ thống mã số vùng trồng, phục vụ truy xuất nguồn gốc và tạo cơ sở để doanh nghiệp thu mua, xuất khẩu.
Ông Tùng cho rằng, dù chưa thể đo đếm tín chỉ carbon, nhưng việc chứng minh sản phẩm được sản xuất theo quy trình giảm phát thải đã đáp ứng được một phần yêu cầu của thị trường tiêu dùng quốc tế.
Thời gian tới, Hiệp hội sẽ tiếp tục phối hợp với doanh nghiệp, hợp tác xã và các hiệp hội ngành hàng liên quan như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng để xây dựng các mô hình sản xuất đồng bộ và phát triển vùng nguyên liệu quy mô lớn. Cùng với đó, xúc tiến đăng ký nhãn hiệu “gạo Việt xanh phát thải thấp”, hướng tới hình thành sản phẩm thương mại cụ thể từ đề án giảm phát thải trong lĩnh vực lúa gạo.
Nguyên Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt đề nghị cơ quan quản lý cho phép hiệp hội tham gia sâu hơn vào quá trình triển khai đề án trên phạm vi cả nước, đồng thời hỗ trợ phát triển hệ thống ứng dụng số hóa phục vụ quản lý sản xuất lúa giảm phát thải.
PGS.TS Mai Quang Vinh (Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam):
Xây dựng thành bộ tiêu chuẩn phát thải thấp
Chúng tôi đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ Khoa học và Công nghệ đưa nội dung này vào chương trình triển khai, để ngay trong năm nay và năm tới xây dựng thành bộ tiêu chuẩn phát thải thấp, làm cơ sở đáp ứng Nghị định 22 năm 2026 vừa qua.
Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam giữ vai trò quan trọng để xây dựng vấn đề này. Chúng tôi đang triển khai quyết liệt và rất mong nhận được sự ủng hộ, đồng hành từ các hiệp hội.
PGS.TS Mai Quang Vinh cho rằng, cây dựng thành bộ tiêu chuẩn phát thải thấp. Ảnh: CP.
Hiện nay, chúng tôi bắt đầu thí điểm quy trình canh tác hữu cơ, phát thải thấp trên 5 loại cây trồng chủ lực, đặc biệt tại Hà Nội và Sơn La. Vừa qua, chúng tôi đã lên Sơn La để đánh giá mô hình hơn 130ha lúa hữu cơ, phát thải thấp. Địa phương hiện đề nghị mở rộng quy mô lên 600ha, ứng dụng công nghệ vi sinh tại chỗ kết hợp thiết bị bay không người lái (drone) để tối ưu hóa việc giảm phát thải.
Tiếp theo là đối với cây cà phê và chè. Theo báo cáo, hai đơn vị là HTX Bích Thao Sơn La và Công ty Cổ phần Phúc Sinh đã tham gia xuất khẩu, trong đó cà phê vừa qua đạt giá rất cao. Người tiêu dùng đánh giá tích cực nhờ sản phẩm được dán nhãn phát thải thấp trên bao bì. Những kết quả bước đầu này được triển khai tại Phú Thọ và tiếp tục thực hiện tại Long Cốc.
Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam xác định, đây là một nền tảng dài hạn, kéo dài trên 10 năm. Để hoàn thiện hệ sinh thái này, chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ, hỗ trợ từ các ngành để hoàn thiện hệ thống mà chúng tôi đã xây dựng. Chúng tôi đề nghị các Vụ, Cục, Viện thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hỗ trợ đưa nội dung này vào chương trình triển khai các đề án của Bộ.
Ngoài ra, chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy trình hữu cơ, phát thải thấp với chi phí hợp lý; đồng thời ứng dụng công cụ AI và máy bay không người lái tự dẫn của Công ty Đại Thành. Ngay trong năm nay, mô hình sẽ được triển khai trên diện tích lớn để đánh giá trong giai đoạn 2026-2027, làm cơ sở cho các bước triển khai tiếp theo.
Ông Lê Quý Kha, đại diện Công ty Cổ phần Đại Thành:
Cần “nhạc trưởng” để tích hợp các công nghệ hiện đại
Hiện nay, qua theo dõi thực tế tại các hợp tác xã và địa phương, chúng ta đang có rất nhiều giải pháp công nghệ đơn lẻ như truy xuất nguồn gốc, quản lý nước tưới, đo đạc carbon, cơ giới hóa… Tuy nhiên, các giải pháp này đang được triển khai rời rạc, thiếu tính kết nối tổng thể.
Ông Lê Quý Kha: Nếu mỗi tuần địa phương phải tiếp nhận từng công nghệ riêng lẻ từ các đơn vị khác nhau thì sẽ rất khó triển khai đồng bộ. Ảnh: Bá Thắng.
Nếu các công nghệ này được tích hợp lại thành một hệ thống đồng bộ, chắc chắn mục tiêu giảm phát thải sẽ đạt được nhanh hơn và hiệu quả hơn. Thực tế, nếu mỗi tuần địa phương phải tiếp nhận từng công nghệ riêng lẻ từ các đơn vị khác nhau thì sẽ rất khó triển khai đồng bộ.
Chúng tôi sẵn sàng đóng vai trò kết nối, như một “nhạc trưởng” để tích hợp các công nghệ hiện có, bao gồm cả các giải pháp về truy xuất nguồn gốc, tính toán carbon, cơ giới hóa, phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học, kinh tế tuần hoàn, than sinh học và các giải pháp giảm phát thải khác.
Đặc biệt, các giải pháp liên quan đến tín chỉ carbon cần được chuẩn hóa và kết nối với thị trường, đảm bảo có đầu ra ổn định cho người sản xuất.
Song song với đó, chúng tôi cũng đang thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý hợp tác xã. Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, năng lực triển khai còn hạn chế và chưa đồng đều. Vì vậy, việc chuẩn hóa và số hóa hoạt động hợp tác xã là rất cần thiết để đưa công nghệ vào thực tiễn sản xuất.
Chúng tôi cũng kiến nghị Ban Chỉ đạo nên có sự tham gia của các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội chuyển đổi xanh và các tổ chức liên quan, nhằm tăng tính xã hội hóa và kết nối đa chiều giữa các bên.
Ngoài ra, cần có các diễn đàn để các doanh nghiệp công nghệ cùng trao đổi, đánh giá và lựa chọn các giải pháp phù hợp, tránh tình trạng trùng lặp hoặc cạnh tranh thiếu hiệu quả giữa các công nghệ.
Chúng tôi cũng mong muốn các cơ quan quản lý, ban chỉ đạo và địa phương cùng tham gia sâu hơn vào quá trình triển khai thực tế, để tăng cường hiệu quả truyền thông và nhân rộng mô hình.
Quan trọng nhất là cần có các số liệu định lượng rõ ràng về hiệu quả giảm phát thải, tiết kiệm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới, để thuyết phục người sản xuất bằng dữ liệu cụ thể thay vì chỉ bằng lý thuyết.
Cuối cùng, tôi xin nhấn mạnh vai trò của hợp tác xã trong quá trình chuyển đổi số và triển khai công nghệ. Nếu không thông qua hợp tác xã, việc đưa công nghệ đến nông dân sẽ rất khó đi vào thực tế.
Sớm 'dán nhãn' cho lúa, cà phê giảm phát thải
Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền cho rằng, giảm phát thải trong trồng trọt không chỉ là câu chuyện cắt giảm đầu vào mà còn gắn chặt với sức khỏe đất, hiệu quả canh tác và khả năng tạo giá trị trên thị trường.
Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền. Ảnh: Bá Thắng.
Theo ông, từ các mô hình “canh tác thông minh thích ứng biến đổi khí hậu” triển khai tại Tây Nguyên và ĐBSCL, Bình Điền ghi nhận việc sử dụng phân bón hiệu quả, kết hợp tưới khô xen kẽ, xử lý rơm rạ và bổ sung vi sinh vật bản địa có thể giúp giảm đáng kể phát thải khí nhà kính, đồng thời duy trì năng suất và cải thiện độ màu mỡ của đất.
Doanh nghiệp đã khảo sát khoảng 500 hộ nông dân, phân tích hơn 1.500 chỉ tiêu đất đai để xây dựng giải pháp phù hợp với điều kiện canh tác thực tế. Theo kết quả bước đầu, một số mô hình thử nghiệm đã cho thấy mức giảm phát thải khoảng 45% so với phương thức canh tác truyền thống.
Ông Tâm cho rằng, để các mô hình giảm phát thải được nhân rộng, cần xây dựng quy trình kỹ thuật cụ thể, dễ áp dụng và có sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý cùng các đơn vị xuất khẩu nhằm gắn sản xuất với yêu cầu thị trường.
Ông cũng đề xuất sớm hình thành nhãn hiệu cho nông sản phát thải thấp, trước mắt với lúa và cà phê, coi đây là bước đệm để nâng nhận diện sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đồng thời, cần có một nền tảng thông tin thống nhất về quy trình, tiêu chí và kỹ thuật giảm phát thải để địa phương, doanh nghiệp và nông dân cùng tiếp cận, tránh tình trạng thông tin phân tán và thiếu chuẩn hóa
Ông Phan Tiến Thành, đại diện Công ty Green Carbon tại Việt Nam:
Áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ cho hiệu quả rõ rệt
Hiện nay, Green Carbon đang phối hợp với các địa phương, hợp tác xã cũng như các viện nghiên cứu thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường để triển khai các dự án canh tác lúa giảm phát thải thông qua áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ, kết hợp với chuyển đổi số và xây dựng hệ thống MRV nhằm phục vụ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường carbon trong nông nghiệp.
Đến nay, Green Carbon đã triển khai 15 dự án tại 15 tỉnh của Việt Nam, tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Ông Phan Tiến Thành, đại diện Công ty Green Carbon tại Việt Nam. Ảnh: Bá Thắng.
Bên cạnh hoạt động giảm phát thải, chúng tôi đang phối hợp phát triển chuỗi liên kết bao tiêu lúa gạo, kết hợp quản lý dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất dữ liệu canh tác nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu quốc tế. Mục tiêu của chúng tôi không chỉ dừng lại ở giảm phát thải khí nhà kính, mà còn hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao, phát thải thấp, có khả năng tham gia các thị trường xuất khẩu giá trị cao trong tương lai.
Đặc biệt, việc áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc tiết kiệm nước, giảm chi phí đầu vào, tối ưu hóa sử dụng phân bón, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Quan trọng hơn cả, người nông dân đang dần thay đổi tư duy sản xuất khi nhận thấy hiệu quả thực tế từ mô hình canh tác giảm phát thải và sản xuất theo tiêu chuẩn thị trường. Sau khi cơ chế JCM giữa Việt Nam và Nhật Bản được ký kết vào ngày 2/5/2026, chúng tôi tin rằng đây sẽ là cơ hội lớn để thúc đẩy hợp tác giảm phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là ngành hàng lúa gạo.
Hiện nay, Green Carbon cũng đang phối hợp với các đối tác xây dựng phương pháp luận AWD dựa trên cơ chế DGM để sớm trình phê duyệt. Chúng tôi kỳ vọng phương pháp luận này sẽ hài hòa với quy trình MRV quốc gia, đồng thời bám sát các tiêu chí kỹ thuật của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, nhằm đảm bảo tính thống nhất trong triển khai thực tế.
Từ góc độ doanh nghiệp thực hiện dự án, chúng tôi cho rằng sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, doanh nghiệp và người nông dân là yếu tố then chốt để phát triển ngành hàng lúa gạo phát thải thấp của Việt Nam. Chúng tôi cam kết sẽ tiếp tục đồng hành lâu dài cùng Việt Nam trong quá trình phát triển chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo phát thải thấp.
Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự đồng hành của tất cả các bên, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia tiên phong trong phát triển ngành hàng lúa gạo phát thải thấp trên thế giới.
Người dân thấy lợi ích sẽ đồng lòng làm theo
Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho rằng, việc tổ chức sản xuất gắn với mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc là định hướng bắt buộc trong quá trình triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tuy nhiên, khó khăn lớn hiện nay là thị trường chưa tạo được sự khác biệt rõ ràng giữa lúa sản xuất theo quy trình giảm phát thải với lúa sản xuất thông thường. Giá thu mua gần như tương đương khiến người dân chưa thực sự có động lực tham gia.
Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang. Ảnh: Bá Thắng.
Dù sản xuất giảm phát thải giúp giảm chi phí đầu vào nhưng, cần sớm triển khai dán nhãn gạo phát thải thấp để tạo lợi thế thị trường. Người dân thấy hiệu quả, thấy lợi ích thì sẽ đồng tình làm theo. Để thực hiện hiệu quả đề án cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ hoàn thiện hạ tầng sản xuất, đổi mới phương thức canh tác, giảm chi phí vật tư đầu vào đến thúc đẩy cơ giới hóa và phát triển kinh tế tập thể theo hướng “đi chung, mua chung, bán chung”. Đây được xem là hướng đi cần thiết để nâng cao sức cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo.
Theo đánh giá của An Giang, nông nghiệp hiện vẫn là lĩnh vực còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là chế biến sâu còn hạn chế. Doanh nghiệp đã đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp nhưng khả năng thu mua, chế biến vẫn chưa đáp ứng được sản lượng lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là trong những thời điểm giá lúa xuống thấp.
Liên quan đến thị trường carbon, ông Hiệp cho rằng quy trình hiện nay còn phức tạp, cần tiếp tục đơn giản hóa để các địa phương thuận lợi triển khai trong bối cảnh Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy mạnh phân cấp.
Khó khăn lớn hiện nay là thị trường chưa tạo được sự khác biệt rõ ràng giữa lúa sản xuất theo quy trình giảm phát thải với lúa sản xuất thông thường. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Ông cũng cho biết, năm 2026 An Giang đã đăng ký triển khai 183.000 ha trong Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp và bước đầu đạt nhiều kết quả khả quan trong vụ đông xuân.
Trong khi đó, ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cho biết, địa phương cơ bản thống nhất với định hướng triển khai đề án đối với 4 nhóm cây trồng chủ lực. Tuy nhiên, diện tích lúa của tỉnh không lớn và có xu hướng giảm do chuyển đổi đất phục vụ phát triển công nghiệp, hạ tầng và các dự án kinh tế - xã hội.
Dù vậy, Thái Nguyên đã xây dựng kế hoạch triển khai đề án, giao nhiệm vụ cụ thể cho các ngành và địa phương thực hiện. Tỉnh hiện dành khoảng 30% nguồn thu từ chuyển đổi đất lúa để hỗ trợ người dân phát triển sản xuất lúa, trong đó có các mô hình giảm phát thải. Đồng thời, 70% còn lại được sử dụng để sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi phục vụ sản xuất.
Ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Bá Thắng.
Theo ông Dương Sơn Hà, mục tiêu trước mắt là phục vụ dán nhãn sản phẩm và thực hiện các tiêu chí môi trường, còn việc tham gia thị trường carbon sẽ là bước đi tiếp theo. Ngoài cây lúa, Thái Nguyên cũng kỳ vọng cây chè, với diện tích hơn 22.000 ha, sẽ trở thành lợi thế nếu xây dựng được quy trình sản xuất giảm phát thải gắn với chế biến sâu và xuất khẩu.
Còn tại Phú Thọ, địa phương đã sớm ban hành chương trình hành động triển khai đề án ngay sau khi được Trung ương ban hành. Sau sáp nhập, tỉnh mới có quy mô đất nông nghiệp lớn, với khoảng 100.000 ha đất trồng lúa.
Theo ông Nguyễn Văn Quân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ, tỉnh đã triển khai mô hình sản xuất lúa giảm phát thải từ năm 2024, ban đầu chỉ 6 ha nhưng đến nay đã mở rộng lên khoảng 2.000 ha. Quá trình triển khai có sự phối hợp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp trong lĩnh vực carbon.
Ông Nguyễn Văn Quân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ. Ảnh: Bá Thắng.
Kết quả bước đầu cho thấy mô hình giúp tăng năng suất, giảm sâu bệnh, giảm ô nhiễm môi trường và nâng hiệu quả kinh tế thêm khoảng 12 - 15% so với sản xuất truyền thống.
Ông Quân cho rằng mục tiêu cốt lõi của đề án là nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường, còn thị trường carbon là câu chuyện dài hạn. Từ đó địa phương đề nghị Bộ sớm hoàn thiện quy trình kỹ thuật cho từng cây trồng, đồng thời xây dựng hệ thống đo đếm, đánh giá phát thải phù hợp để các địa phương thuận lợi triển khai.
Ngoài cây lúa, Phú Thọ cũng đề xuất nghiên cứu mở rộng mô hình giảm phát thải sang các cây trồng chủ lực khác như chè và một số cây ăn quả có tiềm năng.
Bá Thắng - Phạm Hiếu - Kiều Chi
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/















