(19/5/2010) - Việt nam là
một nước nông nghiệp, trên 75% dân số sống bằng các nguồn thu nhập từ
sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đặc biệt sau
khi Việt Nam gia nhập WTO, tình hành sản xuất ngày càng bất ổn, thiếu
bền vững, giá nông sản lên xuống thất thường, hiệu quả sản xuất thấp.
Nhận rõ
tính phức tạp của phát triển sản xuất nông nghiệp trong điều kiện hội
nhập, Hội nghị Trung ương 7 khóa X đã ban hành nghị quyết về việc phát
triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn, tạo tiền đề, cơ sở để các cơ
quan nhà nước có những chính sách phù hợp giúp nông nghiệp Việt Nam phát
triển, nâng cao đời sống nông dân, cải thiện bộ mặt nông thôn. Để thực
hiện được chủ trương, nội dung của nghị quyết, tôi xin có một vài ý kiến
phân tích những hạn chế trong cơ chế chính sách, quá trình sản xuất,
lưu thông sản phẩm nông nghiệp.
1. Quy
hoạch sản xuất tổng thể trên toàn quốc và cung cấp đầy đủ thông tin cho
nông dân.
Sản xuất nông
nghiệp luôn xảy ra tình trạng tự phát, làm theo phong trào như cá ba
sa; chưa giải quyết xong hậu quả dư thừa do phát triển quá mức lại lo
thiếu nguyên liệu vào vụ tới; phá cây ăn quả đồng bằng sông Cửu Long để
trồng lúa, cà phê, hồ tiêu... nông dân phải tự mầy mò, lựa chọn loại cây
trồng, vật nuôi, giải pháp kỹ thuật, thị trường bán sản phẩm. Nguyên
nhân chính là do nông dân thiếu thông tin. Hiện nay, cách tiếp cận thông
tin chính của nông dân là qua đài, báo, truyền hình, mạng lưới khuyến
nông. Tuy nhiên, các thông tin này thường chỉ tập trung vào kỹ thuật sản
xuất, trong khi đó câu hỏi đầu tiên đặt ra cho các nhà sản xuất phải là
sản xuất cho ai, bao nhiêu? Sau đó mới là sản xuất như thế nào? Các
thông tin bà con nông dân tiếp cận được rất chung chung về nhu cầu và
giá các sản phẩm cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, đại loại như “tới
đây sẽ thiếu nguyên liệu cá ba sa”, “nhu cầu của thị trường rất lớn”,
“sẽ xuất khẩu sang thị trường EU”...
Nhận được
thông tin kiểu này, người nông dân sẽ ào ạt phát triển tự phát là điều
không tránh khỏi. Để khắc phục tình trạng này, tôi xin đề xuất:
- Giao cho
một cơ quan chuyên nghiên cứu, tổng hợp để dự báo nhu cầu, giá cả sản
phẩm thị trường trong và ngoài nước theo từng thời điểm cụ thể. Thông
tin chi phí sản xuất, chế biến nông lâm thuỷ sản của nông dân và các
doanh nghiệp kinh doanh. Các thông tin này phải được cập nhật liên tục
và thường xuyên cung cấp cho nông dân. Việc công khai thông tin sẽ giúp
cho nông dân không bị ép giá.
- Cần có quy
hoạch tổng thể quy mô quốc gia về mỗi loại hàng nông, lâm, thủy sản phù
hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu..., chỉ rõ loại cây
trồng, vật nuôi, số lượng, quy mô diện tích... ở từng khu vực cụ thể.
Đặc biệt đối với một số cây trồng có thế mạnh như lúa, cà phê... phải
chỉ rõ đến tận cánh đồng của từng xã. Các thông tin này phải được công
khai đến cơ quan chức năng của từng địa phương và bà con nông dân. Các
địa phương có trách nhiệm thường xuyên tổng hợp số liệu hiện trạng về
quy mô sản xuất, thông báo công khai để nông dân tự xem xét nhu cầu thị
trường và năng lực sản xuất của mình để ra quyết định, giúp nông dân hạn
chế sản xuất dư thừa, theo phong trào. Hiện nay, việc quy hoạch đang
được thực hiện nhưng theo mục tiêu của từng tỉnh; quy hoạch vùng, quy
hoạch quốc gia, chỉ mang tính tổng hợp, định hướng.
- Diện tích
đã được quy hoạch để canh tác các loại cây trồng nông nghiệp quan trọng
phục vụ an ninh lương thực (như lúa...) phải được giao cho Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn quản lý. Với cách làm này sẽ tránh được
tình trạng diện tích nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích tùy tiện. Chiến
lược phải được giao cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và chịu
trách nhiệm trước Chính phủ, nhân dân.
- Lợi nhuận
từ sản xuất nông nghiệp thấp, vì vậy nông dân cần được hỗ trợ nhiều hơn
nữa để sản xuất các mặt hàng chiến lược (như lúa, nuôi trồng thủy
sản...) trên nguyên tắc nông dân phải làm đúng quy trình kỹ thuật, đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường.
2. Xây dựng
cơ chế, tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa các “nhà”, đặc biệt là giữa nhà
nông và doanh nghiệp, các thương lái. Trong những năm gần đây, tình
trạng doanh nghiệp hoặc nông dân phá hợp đồng xảy ra thường xuyên. Khi
giá cả thị trường xuống, doanh nghiệp bỏ nông dân; khi giá thị trường
lên, nông dân giữ hàng không bán... Nguyên nhân là do doanh nghiệp và
nông dân có lợi ích ngược nhau. Nông dân luôn muốn bán đắt, doanh nghiệp
luôn muốn mua rẻ.
Hậu quả
là nông dân luôn bị thiệt thòi, doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng không
nhỏ. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự hợp tác chặt chẽ của nông
dân và doanh nghiệp. Để doanh nghiệp đi trao đổi, thống nhất với từng hộ
nông dân là điều không thể. Vì vậy các hộ nông dân sản xuất trong khu
vực phải thay đổi phương thức sản xuất theo hướng hợp tác tự nguyện (câu
lạc bộ, tổ hợp tác, hợp tác xã), cử ra ban đại diện để làm việc với
doanh nghiệp. Trước mỗi vụ thu hoạch, ban quản lý tổ hợp tác cùng với
nông dân tính toán chi phí, giá thành sản xuất để làm việc với doanh
nghiệp thu mua trên địa bàn. Bản thân doanh nghiệp cũng sẽ tính toán chi
phí, giá thành để cùng thống nhất với nông dân, cùng phân chia lợi
nhuận. Kinh tế Việt Nam hiện nay đã chịu sự chi phối của thị trường thế
giới, nếu các nhà sản xuất làm ăn nhỏ lẻ theo kiểu tiểu nông chi phí sẽ
cao, không đủ sức cạnh tranh. Với phương thức sản xuất cá thể như hiện
nay, các tiểu nông lại tự cạnh tranh với nhau, thực chất là đã tự kiềm
chế nhau. Các doanh nghiệp không xây dựng chiến lược, quy hoạch vùng
nguyên liệu, không có sự hợp tác chặt chẽ với nông dân, thu mua theo
kiểu “hàng xén” sẽ không đảm bảo được về chất lượng, số lượng cho các
thị trường lớn. Phương thức sản xuất quá nhỏ lẻ, manh mún như hiện nay
không phù hợp với mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng
hàng hóa được, đồng thời với những hạn chế về quy hoạch, thiếu thông tin
về quy mô, sản lượng, giá cả, thị trường, ... đã dẫn đến tình trạng
nông dân sản xuất theo phong trào, có năm quá dư thừa, có năm quá thiếu.
Để khắc phục tình trạng này, vai trò và trách nhiệm chính thuộc các cơ
quan quản lý nhà nước.
3. Tăng cường
hỗ trợ cho nông dân thông qua các chương trình khuyến nông: Khuyến nông
đóng vai trò quan trọng giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp
thông qua việc tập huấn, tuyên truyền phổ biến ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, xây dựng các mô hình trình diễn cho nông dân học tập. Để các
chương trình khuyến nông đạt hiệu quả cần phải tiến hành xây dựng danh
mục các chương trình, dự án khuyến nông phù hợp với định hướng, quy
hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp. Nguồn kinh phí khuyến nông của
địa phương thực hiện trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội, khí hậu, đất
đai, phù hợp với định hướng của ngành nông nghiệp và khả năng tiếp nhận
khoa học công nghệ của nông dân ở địa phương. Nguồn kinh phí khuyến nông
trung ương để thực hiện các chương trình, dự án mới, có ý nghĩa trong
vùng sinh thái, từng khu vực theo định hướng, quy hoạch của Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn. Để tránh tình trạng, hiệu quả các chương
trình, dự án chỉ dừng lại ở từng mô hình, khi nhân rộng lại dư thừa sản
phẩm, cần phải gắn công tác khuyến nông về khoa học kỹ thuật với thị
trường, thông tin về “sản xuất thế nào?” cũng cần gắn với thông tin “bao
nhiêu là đủ?, giá thế nào?, bán ở đâu?”. Ngành khuyến nông rất thuận
lợi về trao đổi, thu thập thông tin nhờ có mạng lưới cán bộ từ Trung
ương đến tận thôn bản. Thông qua cán bộ khuyến nông sẽ tuyên truyền, phổ
biến cơ chế, chính sách, quy định của Nhà nước, quy hoạch, định hướng
về sản xuất nông nghiệp, thông tin khoa học kỹ thuật, thị trường, giá cả
nông lâm thuỷ sản cho nông dân; đồng thời cũng cập nhật thông tin từ
các thôn bản, các địa phương để giúp các nhà tư vấn, hoạch định chính
sách cho sản xuất nông nghiệp một cách chính xác và kịp thời. Ổn định
sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân, thay đổi bộ mặt nông
thôn là nền tảng phát triển kinh tế, ổn định xã hội, chính trị của một
quốc gia có tỉ trọng nông nghiệp cao như nước ta. Các cơ quan chức năng
cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế, văn bản pháp quy, công khai thông tin
nhằm hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp có cơ sở pháp lý tự nguyện hợp tác
với nhau, đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất nông
nghiệp. Bản thân người nông dân cần nhận thức việc liên kết sản xuất
theo nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã để nâng cao tính cạnh tranh là hết
sức cần thiết để sản xuất nông nghiệp hiệu quả, giảm rủi ro.
Theo www.agroviet.gov.vn