DỰ BÁO SÂU BỆNH TUẦN TỪ 1 - 6/11
1.
BẮC BỘ
- Cây ngô: sâu cắn lá, sâu đục thân, rệp, bệnh khô vằn…phát sinh, gây hại tăng và hại nặng cục bộ trên ngô sớm, cần theo dõi và phòng trừ kịp thời ở những diện tích có mật độ, tỷ lệ cao.
Bệnh lùn sọc đen hại cục bộ, nhất là ở những diện tích gieo trồng gần nguồn bệnh, cần thường xuyên giám sát đồng ruộng và kịp thời tiêu hủy cây bị bệnh và phòng trừ rầy lưng trắng.
- Đậu tương: Sâu cuốn lá, giòi đục thân, rệp, tăng nhanh và hại cục bộ.
- Cây lạc: Sâu khoang, sâu cuốn lá, bệnh đốm lá…tiếp tục hại. Cần tăng cường kiểm tra đồng ruộng, theo dõi chặt chẽ diễn biến của các đối tượng dịch hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời.
- Cây rau họ hoa thập tự: Sâu khoang, bọ nhảy, rệp, sâu tơ…hại tăng.
- Cây cam, chanh: Bệnh greening, rệp muội…tiếp tục hại.
- Cây vải – nhãn: Sâu đo, nhện lông nhung, bệnh sương mai…tiếp tục hại
- Chè: Rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ hại chủ yếu.
- Thông: Sâu róm thông tiếp tục hại.
- Chuột: phát sinh tăng và gây hại cục bộ trên rau màu, cần tổ chức cộng đồng phát động các đợt ra quân diệt chuột.
2. BẮC TRUNG BỘ
Trên cây lúa mùa muộn: Tại Thanh Hoá, Nghệ An
- Bệnh lùn sọc đen: Tiếp tục gây hại cần theo dõi và phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng; bệnh lem lép hạt, nhện gié ở những diện tích có mật độ, tỷ lệ cao.
Cây trồng khác: Cần theo dõi và phòng trừ sớm ở những diện tích có mật độ, tỷ lệ cao:
- Trên cây ăn quả: Bệnh greening, nhện các loại, bệnh chảy gôm…tiếp tục phát sinh gây hại.
- Trên các cây cà phê, hồ tiêu: Rệp các loại, bệnh thán thư, khô cành trên cây cà phê và rệp sáp, tuyến trùng, thối gốc rễ…tiếp tục phát sinh gây hại nặng ở những vườn cây lâu năm chăm bón, thoát nước kém.
- Trên cây mía: Bệnh chồi cỏ tiếp tục phát sinh gây hại, đặc biệt trên mía lưu gốc vùng bị nhiễm bệnh; bọ hung đen, bệnh đốm đỏ lá, sâu đục thân…tiếp tục phát sinh gây hại.
3. DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN
Cây lúa:
- Bệnh đạo ôn lá, cổ bông phát sinh hại chủ yếu lúa mùa, lúa rẫy trà muộn ở Tây Nguyên và rải rác gieo, lúa vụ 12 ở một số tỉnh đồng bằng.
- Sâu đục thân 2 chấm, rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh khô vằn, bệnh lem lép thối hạt hại chủ yếu trên lúa gieo, lúa mùa, lúa lỡ vụ giai đoạn trỗ - ngậm sữa.
- Sâu cuốn lá, hại chủ yếu trên lúa gieo, lúa vụ 12 giai đoạn đứng cái – đòng trổ.
- Chuột: Hại nhẹ rải rác trên các trà lúa.
- OBV: Sinh sản và lây lan theo nguồn nước.
Cây trồng khác:
- Cây rau màu: Sâu tơ, sâu xanh, bọ nhảy, sâu khoang, bệnh phấn trắng, bệnh mốc sương bọ trĩ…gây hại chủ yếu rau họ bầu bí: bệnh héo xanh, bệnh thán thư, sâu đục quả,…hại chủ yếu rau họ cà ở các vùng trồng rau tập trung ở Tây Nguyên; bệnh lỡ cổ rễ, sâu xám, sâu xanh, sâu khoang…phát sinh và gia tăng hại đậu đỗ, lạc vụ 2 giai đoạn phát triển thân lá - ra hoa quả.
- Cây công nghiệp: bệnh gỉ sắt, bệnh khô cành, rệp, bệnh vàng lá…tiếp tục hại phổ biến trên cà phê; tuyến trùng rễ, bệnh vàng lá - thối rễ, rệp sáp hại tiêu; sâu đục nõn, sâu rộp lá, bọ xít muỗi, nấm hồng hại phổ biến trên cây điều giai đoạn phát triển thân cành; Sâu non bọ hung, xén tóc, bệnh than hại cục bộ mía vùng ổ dịch; sâu đục thân, rệp bẹ, gia tăng hại phổ biến mía vươn lóng. Tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên.
- Bọ cánh cứng tiếp tục
gây hại ở các vườn dừa.
4. NAM BỘ
- Rầy nâu: Lứa rầy cám mới bắt đầu nở rộ, đồng thời rầy nâu di trú từ các trà lúa thu đông đang thu hoạch sang, có khả năng gây hại trên các trà lúa đông xuân sớm đã xuống giống.
Tại những vùng đã thu hoạch lúa thu đông, vận động nông dân cày xới vùi gốc rạ, cỏ, lúa chét…tránh rầy nâu di trú truyền bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá và các mầm bệnh lưu tồn trong đất tránh lây lan cho vụ đông xuân.
Xuống giống tập trung, đồng loạt và “né rầy” theo lịch khuyến cáo. Trong trường hợp do điều kiện tự nhiên xuống giống không “né rầy” được thì áp dụng các biện pháp che chắn nước, phun thuốc diệt rầy di trú.
- Bệnh đạo ôn: Bệnh đạo ôn tiếp tục phát sinh và gây hại trên trà lúa giai đoạn đẻ nhánh – đòng trổ nhất là những ruộng sạ dày, gieo trồng giống nhiễm, bón thừa đạm…Do vậy, các địa phương cần thường xuyên thăm đồng, phát hiện kịp thời, đúng lúc.
Ngoài ra, cần lưu ý phòng ngừa tốt đối với OBV đặc biệt đối với lúa mới sạ < 15 ngày và những ruộng khó thoát nước.















