CẦN XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO THEO HƯỚNG GAP
Ở
các nước tiên tiến, tỷ lệ gạo nguyên sau xay xát đạt trên 50% tổng
lượng gạo thu được. Còn ở ĐBSCL, tỷ lệ này rất thấp, chỉ từ 30-40%,
nguyên nhân do khâu canh tác, chọn giống, sử dụng lúa lương thực làm
giống tới 70% ở ĐBSCL và bảo quản lúa gạo của ta chưa tốt. Dẫn đến
giá gạo xuất khẩu của ta không cạnh tranh lại với Thái Lan, một bao gạo
của Việt Nam khi xuất khẩu ra nước ngoài có gần một chục giống lúa trộn
lẫn. Do đó, việc xây dựng thương hiệu gặp nhiều trở ngại .
Để thúc
đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và ổn
định thị trường nông, lâm sản, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trong
bối cảnh hội nhập, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 80 về
chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.
Trong quá trình triển khai quyết định, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn cùng Ngân hàng Nhà nước, Hội nông dân VN... đã tổ chức ký Chương
trình liên kết 4 "nhà" trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ.
Ai là
người chủ trì trong liên kết 4 nhà? Liên kết ở đây là giúp đỡ nhà nông
hay liên kết để cùng chia lợi, cùng chịu thiệt? Hiện nay, liên kết 4 nhà
vẫn chưa mặn mà là vì nó đang thiết lập trên trách nhiệm nhiều hơn là
lợi ích, trong khi phải lấy lợi ích làm tiêu chí căn bản.
Do những
hạn chế về thị trường tiêu thụ, phần lớn hợp đồng giữa doanh nghiệp và
người sản xuất thiếu tính bền vững. Nông dân không yên tâm đầu tư dài
hạn, nhất là nông lâm sản đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn. Mối liên kết
lỏng lẻo giữa 4 "nhà" thể hiện ở ngay hợp đồng liên kết. Việc xử lý các
vi phạm gặp nhiều khó khăn, chưa có giải pháp phù hợp để ràng buộc hai
bên. Đối với nông dân, một số không nhỏ còn tư tưởng hám lợi trước
mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Mặc dù ký hợp đồng nhận đầu tư ứng trước
của doanh nghiệp, nhiều hộ nông dân vẫn sẵn sàng bán nông sản cho tư
thương hoặc doanh nghiệp khác với giá cao hơn khi thị trường có biến
động. Điều này đã khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hồi
vốn đầu tư ứng trước. Ngược lại, phía doanh nghiệp lợi dụng sự
thiếu hiểu biết và trình độ còn hạn chế của nông dân nên khi
soạn thảo hợp đồng có những điều khoản không rõ ràng và
thường có lợi cho doanh nghiệp, cũng như khi thị trường giảm
giá doanh nghiệp cũng không tôn trọng hợp đồng đã ký, đưa ra những
điều kiện vô lý để không mua hết sản phẩm, hoặc không tuân thủ về
giá mua đã cam kết dẫn đến phá vỡ hợp đồng gây thiệt hại cho nông
dân. Bên cạnh đó, doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, khó khăn
lớn nhất chính là việc thiếu vốn, sự quan tâm hỗ trợ của các "nhà" khác,
và lại phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân. Trong trường hợp
xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng không trả được nợ,
doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng vốn vay, giá
thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính. Vì vậy, doanh
nghiệp khi ký hợp đồng còn ngần ngại đầu tư cho sản xuất kinh doanh nông
- lâm - ngư nghiệp vì đầu tư thì cao nhưng tỷ lệ rủi ro lớn.
Trong
mối liên kết, vai trò của ngân hàng là không thể thiếu được. Tuy nhiên,
hiện nay do tâm lý sợ rủi ro, muốn bảo toàn vốn nên nhiều ngân hàng
chưa mạnh dạn tham gia trực tiếp vào quá trình liên kết mà thường cho
các doanh nghiệp vay vốn để họ đầu tư cho nông dân. Vì vậy, khi gặp rủi
ro chỉ có doanh nghiệp là chịu thiệt.
Quan hệ nhà nông - nhà khoa học
cũng vậy, hiện mối quan hệ này đang như là sự giúp đỡ, bao cấp chứ chưa
phải là đối tác cùng lợi ích, vì vậy chưa khuyến khích nhà khoa học đến
với nông dân. Nhà khoa học giữ vai trò rất quan trọng trong phát
triển sản xuất và gây dựng thương hiệu sản phẩm giúp tăng hiệu
quả sản xuất và cải thiện thu nhập cho cả nông dân và doanh
nghiệp cũng như tăng thu ngân sách cho nhà nước. Với kinh phí
nghiên cứu còn hạn hẹp nhưng đã không ngừng nghiên cứu, chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chế biến sản phẩm làm giảm giá
thành sản xuất, tăng năng suất, chất lượng đã góp phần đưa nước
ta thành một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu nông sản và
thủy sản. Tuy nhiên, do thiếu những cơ chế rõ ràng khiến vai trò của
"nhà" này không được đề cao và phần được hưởng của họ hầu như không
đáng kể. Hơn nữa, cần phải thay đổi tập quán sử dụng giống
lúa của nông dân, không sử dụng lúa lương thực làm giống, chỉ
sử dụng giống đạt tiêu chuẩn từ cấp xác nhận trở lên và
giống có chất lượng cơm ngon để xây dựng thương hiệu. Để hướng
sản xuất này đạt hiệu quả cao và phổ triển nhanh giống lúa
triển vọng đến tận tay người sản xuất, mối liên kết giữa nông
dân và cơ quan nghiên cứu thông qua doanh nghiệp cần được phát
huy. Doanh nghiệp, nông dân thì thu lợi nhuận. Viện nghiên cứu có thể
đưa các kết quả của mình vào đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã
hội chứ không chỉ dừng ở mức thực nghiệm. Trong xu thế hội nhập toàn
diện về kinh tế, cần chú trọng đến phát triển bền vững để tăng khả
năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, gìn giữ và bảo vệ môi trường… Do
đó, nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào
sản xuất cần đầu tư hợp lý.
Nhà nước có vai trò rất lớn nhưng
chưa thể hiện hết vai trò này. Hiện vẫn chưa tạo ra được hành lang pháp
lý giải quyết tranh chấp giữa các nhà. Khi có tranh chấp chỉ có hoà
giải, nếu hoà giải không xong thì vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng.
Vì vậy, nhà nước phải giữ vai trò làm trọng tài để giải quyết thỏa
đáng các tranh chấp của các bên tham gia. Ngoài ra, Nhà nước cần
quy hoạch sản xuất nông nghiệp hợp lý hơn để tạo ra sản phẩm hàng hoá.
Sản phẩm hàng hoá ở đây là sản phẩm có chất lượng cao, được chế biến và
có sức cạnh tranh trên thị trường. Nếu bốn nhà vẫn rời rạc như hiện
nay, thì nông sản vẫn sẽ chỉ là sản phẩm thô và điệp khúc được mùa mất
giá vẫn sẽ tiếp diễn như giá lúa và nhiều nông sản khác đang diễn
ra.
Như đã phân tích ở trên, để tạo đầu ra bền vững và
tăng giá trị cho nông sản Việt nam, nhà nước cần giữ vai trò
nhạc trưởng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần liên kết với các
cơ quan nghiên cứu và đầu tư nghiên cứu khoa học, thiết lập các mối
quan hệ bền vững với thị trường thế giới để tạo đầu ra ổn định
cho nông sản nhằm định hướng sản xuất cho nông dân, vừa phân phối
hàng hoá vừa xuất khẩu, thay cho các thương lái hiện nay. Quan trọng
hơn, những yếu tố này còn là cơ sở làm nên thương hiệu cho các doanh
nghiệp cũng như nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cho nên, để
giải quyết được bài toán liên kết “4 nhà”, cùng với Nhà nước, doanh
nghiệp phải tích cực vào cuộc, gắn kết với nhà khoa học, nông dân từ
khâu kỹ thuật, chăm sóc phát triển cây giống đến xây dựng vùng nguyên
liệu, chứ không thể phó mặc vào thương lái như hiện nay
Cần Thơ với
lợi thế trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các quận nội
thành có các khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất xuất nhập khẩu nông sản
và hàng hoá khác của vùng ĐBSCL với diện tích gieo trồng hằng năm và
tiêu thụ hàng hoá lớn của Vùng. đồng thời các quận, huyện vùng ven với
lợi thế vành đai xanh phát triển nông nghiệp phục vụ tiêu dùng, xuất
khẩu cũng như phục vụ du lịch sinh thái. Hằng năm Cần Thơ có diện tích
canh tác khoảng 90.000 hecta, nếu tính trên diện tích canh tác( 2-3
vụ/năm) thì diện tích này có khoảng 220.000 hecta. Tuy nhiên, trong xu
thế hội nhập toàn cầu tạo ra nhiều cơ hội tốt đồng thời cũng cạnh tranh
ngày càng cao, thị trường đòi hỏi hàng hóa phải đảm bảo chất lượng, an
toàn, giá rẽ, với số lượng lớn, ổn định để tăng sức cạnh tranh. Do đó,
cần ứng dụng quy trình canh tác tổng hợp, an toàn và bền vững (GAP) để
xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả với quy mô lớn hơn; có sự liên
kết chặt chẽ của 4 nhà (nhà sản xuất, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và
nhà nước); đa dạng hóa sản phẩm để tránh rũi ro về thiên tai, thị
trường…Như xây dựng địa chỉ xanh về giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn
đáp ứng nhu cầu giống cho sản xuất rất lớn mà hệ thống nhà nước không
cung cấp đủ ( khoảng 20%), gây dựng thương hiệu lúa hàng hóa chất lượng,
an toàn (hạn chế sử dụng hóa chất và không sử dụng hóa chất độc hại) là
điều rất cần thiết không chỉ Cần Thơ mà còn thực hiện trên cả nước để
góp phần phát triển kinh tế xã hội nói chung và nhất là cho phần lớn
nông dân ở nông thôn.















