CẦN XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO THEO HƯỚNG GAP

(4/1/2010) - Theo Cục Trồng trọt năm 2008 thì sản lượng lúa hàng hóa toàn vùng ĐBSCL ước đạt 20,5 triệu tấn (cả nước khoảng 37 triệu tấn). Hiện nay, gạo Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là gạo 15% và 25% tấm, gạo 5% tấm chiếm rất ít do tỷ lệ gạo nguyên sau xay xát thấp. Nếu xay 100 kg lúa, lượng gạo thu được từ 65-70 kg, nhưng lượng gạo nguyên chỉ chiếm khoảng 30-40%.

Ở các nước tiên tiến, tỷ lệ gạo nguyên sau xay xát đạt trên 50% tổng lượng gạo thu được. Còn ở ĐBSCL, tỷ lệ này rất thấp, chỉ từ 30-40%, nguyên nhân do khâu canh tác, chọn giống, sử dụng lúa lương thực làm giống tới 70% ở ĐBSCL và bảo quản lúa gạo của ta chưa tốt. Dẫn đến giá gạo xuất khẩu của ta không cạnh tranh lại với Thái Lan, một bao gạo của Việt Nam khi xuất khẩu ra nước ngoài có gần một chục giống lúa trộn lẫn. Do đó, việc xây dựng thương hiệu gặp nhiều trở ngại .
Để thúc đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và ổn định thị trường nông, lâm sản, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trong bối cảnh hội nhập, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 80 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. Trong quá trình triển khai quyết định, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ngân hàng Nhà nước, Hội nông dân VN... đã tổ chức ký Chương trình liên kết 4 "nhà" trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ.
Ai là người chủ trì trong liên kết 4 nhà? Liên kết ở đây là giúp đỡ nhà nông hay liên kết để cùng chia lợi, cùng chịu thiệt? Hiện nay, liên kết 4 nhà vẫn chưa mặn mà là vì nó đang thiết lập trên trách nhiệm nhiều hơn là lợi ích, trong khi phải lấy lợi ích làm tiêu chí căn bản.
Do những hạn chế về thị trường tiêu thụ, phần lớn hợp đồng giữa doanh nghiệp và người sản xuất thiếu tính bền vững. Nông dân không yên tâm đầu tư dài hạn, nhất là nông lâm sản đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn. Mối liên kết lỏng lẻo giữa 4 "nhà" thể hiện ở ngay hợp đồng liên kết. Việc xử lý các vi phạm gặp nhiều khó khăn, chưa có giải pháp phù hợp để ràng buộc hai bên. Đối với nông dân, một số không nhỏ còn tư tưởng hám lợi trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Mặc dù ký hợp đồng nhận đầu tư ứng trước của doanh nghiệp, nhiều hộ nông dân vẫn sẵn sàng bán nông sản cho tư thương hoặc doanh nghiệp khác với giá cao hơn khi thị trường có biến động. Điều này đã khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn đầu tư ứng trước. Ngược lại, phía doanh nghiệp lợi dụng sự thiếu hiểu biết và trình độ còn hạn chế của nông dân nên khi soạn thảo hợp đồng có những điều khoản không rõ ràng và thường có lợi cho doanh nghiệp, cũng như khi thị trường giảm giá doanh nghiệp cũng không tôn trọng hợp đồng đã ký, đưa ra những điều kiện vô lý để không mua hết sản phẩm, hoặc không tuân thủ về giá mua đã cam kết dẫn đến phá vỡ hợp đồng gây thiệt hại cho nông dân. Bên cạnh đó, doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, khó khăn lớn nhất chính là việc thiếu vốn, sự quan tâm hỗ trợ của các "nhà" khác, và lại phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân. Trong trường hợp xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng không trả được nợ, doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng vốn vay, giá thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính. Vì vậy, doanh nghiệp khi ký hợp đồng còn ngần ngại đầu tư cho sản xuất kinh doanh nông - lâm - ngư nghiệp vì đầu tư thì cao nhưng tỷ lệ rủi ro lớn.
Trong mối liên kết, vai trò của ngân hàng là không thể thiếu được. Tuy nhiên, hiện nay do tâm lý sợ rủi ro, muốn bảo toàn vốn nên nhiều ngân hàng chưa mạnh dạn tham gia trực tiếp vào quá trình liên kết mà thường cho các doanh nghiệp vay vốn để họ đầu tư cho nông dân. Vì vậy, khi gặp rủi ro chỉ có doanh nghiệp là chịu thiệt.
Quan hệ nhà nông - nhà khoa học cũng vậy, hiện mối quan hệ này đang như là sự giúp đỡ, bao cấp chứ chưa phải là đối tác cùng lợi ích, vì vậy chưa khuyến khích nhà khoa học đến với nông dân. Nhà khoa học giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển sản xuất và gây dựng thương hiệu sản phẩm giúp tăng hiệu quả sản xuất và cải thiện thu nhập cho cả nông dân và doanh nghiệp cũng như tăng thu ngân sách cho nhà nước. Với kinh phí nghiên cứu còn hạn hẹp nhưng đã không ngừng nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chế biến sản phẩm làm giảm giá thành sản xuất, tăng năng suất, chất lượng đã góp phần đưa nước ta thành một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu nông sản và thủy sản. Tuy nhiên, do thiếu những cơ chế rõ ràng khiến vai trò của "nhà" này không được đề cao và phần được hưởng của họ hầu như không đáng kể. Hơn nữa, cần phải thay đổi tập quán sử dụng giống lúa  của nông dân, không sử dụng lúa lương thực làm giống, chỉ sử dụng giống đạt tiêu chuẩn từ cấp xác nhận trở lên và giống có chất lượng cơm ngon để xây dựng thương hiệu. Để hướng sản xuất này đạt hiệu quả cao và phổ triển nhanh giống lúa triển vọng đến tận tay người sản xuất, mối liên kết giữa nông dân và cơ quan nghiên cứu thông qua doanh nghiệp cần được phát huy. Doanh nghiệp, nông dân thì thu lợi nhuận. Viện nghiên cứu có thể đưa các kết quả của mình vào đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội chứ không chỉ dừng ở mức thực nghiệm. Trong xu thế hội nhập toàn diện về kinh tế, cần chú trọng đến phát triển bền vững để tăng khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, gìn giữ và bảo vệ môi trường… Do đó, nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất cần đầu tư hợp lý.
Nhà nước có vai trò rất lớn nhưng chưa thể hiện hết vai trò này. Hiện vẫn chưa tạo ra được hành lang pháp lý giải quyết tranh chấp giữa các nhà. Khi có tranh chấp chỉ có hoà giải, nếu hoà giải không xong thì vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng. Vì vậy, nhà nước phải giữ vai trò làm trọng tài để giải quyết thỏa đáng các tranh chấp của các bên tham gia. Ngoài ra, Nhà nước cần quy hoạch sản xuất nông nghiệp hợp lý hơn để tạo ra sản phẩm hàng hoá. Sản phẩm hàng hoá ở đây là sản phẩm có chất lượng cao, được chế biến và có sức cạnh tranh trên thị trường. Nếu bốn nhà vẫn rời rạc như hiện nay, thì nông sản vẫn sẽ chỉ là sản phẩm thô và điệp khúc được mùa mất giá vẫn sẽ tiếp diễn như giá lúa và nhiều nông sản khác đang diễn ra.

Như đã phân tích ở trên, để tạo đầu ra bền vững và tăng giá trị cho nông sản Việt nam, nhà nước cần giữ vai trò nhạc trưởng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần liên kết với các cơ quan nghiên cứu và đầu tư nghiên cứu khoa học, thiết lập các mối quan hệ bền vững với thị trường thế giới để tạo đầu ra ổn định cho nông sản nhằm định hướng sản xuất cho nông dân, vừa phân phối hàng hoá vừa xuất khẩu, thay cho các thương lái hiện nay. Quan trọng hơn, những yếu tố này còn là cơ sở làm nên thương hiệu cho các doanh nghiệp cũng như nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cho nên, để giải quyết được bài toán liên kết “4 nhà”, cùng với Nhà nước, doanh nghiệp phải tích cực vào cuộc, gắn kết với nhà khoa học, nông dân từ khâu kỹ thuật, chăm sóc phát triển cây giống đến xây dựng vùng nguyên liệu, chứ không thể phó mặc vào thương lái như hiện nay
Cần Thơ với lợi thế trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các quận nội thành có các khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất xuất nhập khẩu nông sản và hàng hoá khác của vùng ĐBSCL với diện tích gieo trồng hằng năm và tiêu thụ hàng hoá lớn của Vùng. đồng thời các quận, huyện vùng ven với lợi thế vành đai xanh phát triển nông nghiệp phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu cũng như phục vụ du lịch sinh thái. Hằng năm Cần Thơ có diện tích canh tác khoảng 90.000 hecta, nếu tính trên diện tích canh tác( 2-3 vụ/năm) thì diện tích này có khoảng 220.000 hecta. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập toàn cầu tạo ra nhiều cơ hội tốt đồng thời cũng cạnh tranh ngày càng cao, thị trường đòi hỏi hàng hóa phải đảm bảo chất lượng, an toàn, giá rẽ, với số lượng lớn, ổn định để tăng sức cạnh tranh. Do đó, cần ứng dụng quy trình canh tác tổng hợp, an toàn và bền vững (GAP) để xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả với quy mô lớn hơn; có sự liên kết chặt chẽ của 4 nhà (nhà sản xuất, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nước); đa dạng hóa sản phẩm để tránh rũi ro về thiên tai, thị trường…Như xây dựng địa chỉ xanh về giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu giống cho sản xuất rất lớn mà hệ thống nhà nước không cung cấp đủ ( khoảng 20%), gây dựng thương hiệu lúa hàng hóa chất lượng, an toàn (hạn chế sử dụng hóa chất và không sử dụng hóa chất độc hại) là điều rất cần thiết không chỉ Cần Thơ mà còn thực hiện trên cả nước để góp phần phát triển kinh tế xã hội nói chung và nhất là cho phần lớn nông dân ở nông thôn.

Bảng giá nông sản

Hạt mắc ca70.000
Ca cao180.000
Cao su148.000
Gạo IR 50412.500
Cà phê125.600
Bơ sáp25.000
Sầu riêng Ri đẹp65.000
Điều40.000
Hồ tiêu119.000

[Xem tiếp]

Hỏi đáp

Bình Điền giải đáp các câu hỏi về việc sử dụng phân bón và phòng trừ sâu bệnh cho nhà nông.

Đặt câu hỏiXem câu hỏi

 

Tỷ giá Ngoại tệ

 


Top

TẢI ỨNG DỤNG CANH TÁC THÔNG MINH TẠI ĐÂY

CẦN XÂY DỰNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO THEO HƯỚNG GAP

(4/1/2010) - Theo Cục Trồng trọt năm 2008 thì sản lượng lúa hàng hóa toàn vùng ĐBSCL ước đạt 20,5 triệu tấn (cả nước khoảng 37 triệu tấn). Hiện nay, gạo Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là gạo 15% và 25% tấm, gạo 5% tấm chiếm rất ít do tỷ lệ gạo nguyên sau xay xát thấp. Nếu xay 100 kg lúa, lượng gạo thu được từ 65-70 kg, nhưng lượng gạo nguyên chỉ chiếm khoảng 30-40%.

Ở các nước tiên tiến, tỷ lệ gạo nguyên sau xay xát đạt trên 50% tổng lượng gạo thu được. Còn ở ĐBSCL, tỷ lệ này rất thấp, chỉ từ 30-40%, nguyên nhân do khâu canh tác, chọn giống, sử dụng lúa lương thực làm giống tới 70% ở ĐBSCL và bảo quản lúa gạo của ta chưa tốt. Dẫn đến giá gạo xuất khẩu của ta không cạnh tranh lại với Thái Lan, một bao gạo của Việt Nam khi xuất khẩu ra nước ngoài có gần một chục giống lúa trộn lẫn. Do đó, việc xây dựng thương hiệu gặp nhiều trở ngại .
Để thúc đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và ổn định thị trường nông, lâm sản, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trong bối cảnh hội nhập, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 80 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. Trong quá trình triển khai quyết định, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ngân hàng Nhà nước, Hội nông dân VN... đã tổ chức ký Chương trình liên kết 4 "nhà" trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ.
Ai là người chủ trì trong liên kết 4 nhà? Liên kết ở đây là giúp đỡ nhà nông hay liên kết để cùng chia lợi, cùng chịu thiệt? Hiện nay, liên kết 4 nhà vẫn chưa mặn mà là vì nó đang thiết lập trên trách nhiệm nhiều hơn là lợi ích, trong khi phải lấy lợi ích làm tiêu chí căn bản.
Do những hạn chế về thị trường tiêu thụ, phần lớn hợp đồng giữa doanh nghiệp và người sản xuất thiếu tính bền vững. Nông dân không yên tâm đầu tư dài hạn, nhất là nông lâm sản đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn. Mối liên kết lỏng lẻo giữa 4 "nhà" thể hiện ở ngay hợp đồng liên kết. Việc xử lý các vi phạm gặp nhiều khó khăn, chưa có giải pháp phù hợp để ràng buộc hai bên. Đối với nông dân, một số không nhỏ còn tư tưởng hám lợi trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Mặc dù ký hợp đồng nhận đầu tư ứng trước của doanh nghiệp, nhiều hộ nông dân vẫn sẵn sàng bán nông sản cho tư thương hoặc doanh nghiệp khác với giá cao hơn khi thị trường có biến động. Điều này đã khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn đầu tư ứng trước. Ngược lại, phía doanh nghiệp lợi dụng sự thiếu hiểu biết và trình độ còn hạn chế của nông dân nên khi soạn thảo hợp đồng có những điều khoản không rõ ràng và thường có lợi cho doanh nghiệp, cũng như khi thị trường giảm giá doanh nghiệp cũng không tôn trọng hợp đồng đã ký, đưa ra những điều kiện vô lý để không mua hết sản phẩm, hoặc không tuân thủ về giá mua đã cam kết dẫn đến phá vỡ hợp đồng gây thiệt hại cho nông dân. Bên cạnh đó, doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, khó khăn lớn nhất chính là việc thiếu vốn, sự quan tâm hỗ trợ của các "nhà" khác, và lại phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân. Trong trường hợp xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng không trả được nợ, doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng vốn vay, giá thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính. Vì vậy, doanh nghiệp khi ký hợp đồng còn ngần ngại đầu tư cho sản xuất kinh doanh nông - lâm - ngư nghiệp vì đầu tư thì cao nhưng tỷ lệ rủi ro lớn.
Trong mối liên kết, vai trò của ngân hàng là không thể thiếu được. Tuy nhiên, hiện nay do tâm lý sợ rủi ro, muốn bảo toàn vốn nên nhiều ngân hàng chưa mạnh dạn tham gia trực tiếp vào quá trình liên kết mà thường cho các doanh nghiệp vay vốn để họ đầu tư cho nông dân. Vì vậy, khi gặp rủi ro chỉ có doanh nghiệp là chịu thiệt.
Quan hệ nhà nông - nhà khoa học cũng vậy, hiện mối quan hệ này đang như là sự giúp đỡ, bao cấp chứ chưa phải là đối tác cùng lợi ích, vì vậy chưa khuyến khích nhà khoa học đến với nông dân. Nhà khoa học giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển sản xuất và gây dựng thương hiệu sản phẩm giúp tăng hiệu quả sản xuất và cải thiện thu nhập cho cả nông dân và doanh nghiệp cũng như tăng thu ngân sách cho nhà nước. Với kinh phí nghiên cứu còn hạn hẹp nhưng đã không ngừng nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chế biến sản phẩm làm giảm giá thành sản xuất, tăng năng suất, chất lượng đã góp phần đưa nước ta thành một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu nông sản và thủy sản. Tuy nhiên, do thiếu những cơ chế rõ ràng khiến vai trò của "nhà" này không được đề cao và phần được hưởng của họ hầu như không đáng kể. Hơn nữa, cần phải thay đổi tập quán sử dụng giống lúa  của nông dân, không sử dụng lúa lương thực làm giống, chỉ sử dụng giống đạt tiêu chuẩn từ cấp xác nhận trở lên và giống có chất lượng cơm ngon để xây dựng thương hiệu. Để hướng sản xuất này đạt hiệu quả cao và phổ triển nhanh giống lúa triển vọng đến tận tay người sản xuất, mối liên kết giữa nông dân và cơ quan nghiên cứu thông qua doanh nghiệp cần được phát huy. Doanh nghiệp, nông dân thì thu lợi nhuận. Viện nghiên cứu có thể đưa các kết quả của mình vào đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội chứ không chỉ dừng ở mức thực nghiệm. Trong xu thế hội nhập toàn diện về kinh tế, cần chú trọng đến phát triển bền vững để tăng khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, gìn giữ và bảo vệ môi trường… Do đó, nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất cần đầu tư hợp lý.
Nhà nước có vai trò rất lớn nhưng chưa thể hiện hết vai trò này. Hiện vẫn chưa tạo ra được hành lang pháp lý giải quyết tranh chấp giữa các nhà. Khi có tranh chấp chỉ có hoà giải, nếu hoà giải không xong thì vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng. Vì vậy, nhà nước phải giữ vai trò làm trọng tài để giải quyết thỏa đáng các tranh chấp của các bên tham gia. Ngoài ra, Nhà nước cần quy hoạch sản xuất nông nghiệp hợp lý hơn để tạo ra sản phẩm hàng hoá. Sản phẩm hàng hoá ở đây là sản phẩm có chất lượng cao, được chế biến và có sức cạnh tranh trên thị trường. Nếu bốn nhà vẫn rời rạc như hiện nay, thì nông sản vẫn sẽ chỉ là sản phẩm thô và điệp khúc được mùa mất giá vẫn sẽ tiếp diễn như giá lúa và nhiều nông sản khác đang diễn ra.

Như đã phân tích ở trên, để tạo đầu ra bền vững và tăng giá trị cho nông sản Việt nam, nhà nước cần giữ vai trò nhạc trưởng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần liên kết với các cơ quan nghiên cứu và đầu tư nghiên cứu khoa học, thiết lập các mối quan hệ bền vững với thị trường thế giới để tạo đầu ra ổn định cho nông sản nhằm định hướng sản xuất cho nông dân, vừa phân phối hàng hoá vừa xuất khẩu, thay cho các thương lái hiện nay. Quan trọng hơn, những yếu tố này còn là cơ sở làm nên thương hiệu cho các doanh nghiệp cũng như nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cho nên, để giải quyết được bài toán liên kết “4 nhà”, cùng với Nhà nước, doanh nghiệp phải tích cực vào cuộc, gắn kết với nhà khoa học, nông dân từ khâu kỹ thuật, chăm sóc phát triển cây giống đến xây dựng vùng nguyên liệu, chứ không thể phó mặc vào thương lái như hiện nay
Cần Thơ với lợi thế trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các quận nội thành có các khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất xuất nhập khẩu nông sản và hàng hoá khác của vùng ĐBSCL với diện tích gieo trồng hằng năm và tiêu thụ hàng hoá lớn của Vùng. đồng thời các quận, huyện vùng ven với lợi thế vành đai xanh phát triển nông nghiệp phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu cũng như phục vụ du lịch sinh thái. Hằng năm Cần Thơ có diện tích canh tác khoảng 90.000 hecta, nếu tính trên diện tích canh tác( 2-3 vụ/năm) thì diện tích này có khoảng 220.000 hecta. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập toàn cầu tạo ra nhiều cơ hội tốt đồng thời cũng cạnh tranh ngày càng cao, thị trường đòi hỏi hàng hóa phải đảm bảo chất lượng, an toàn, giá rẽ, với số lượng lớn, ổn định để tăng sức cạnh tranh. Do đó, cần ứng dụng quy trình canh tác tổng hợp, an toàn và bền vững (GAP) để xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả với quy mô lớn hơn; có sự liên kết chặt chẽ của 4 nhà (nhà sản xuất, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nước); đa dạng hóa sản phẩm để tránh rũi ro về thiên tai, thị trường…Như xây dựng địa chỉ xanh về giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu giống cho sản xuất rất lớn mà hệ thống nhà nước không cung cấp đủ ( khoảng 20%), gây dựng thương hiệu lúa hàng hóa chất lượng, an toàn (hạn chế sử dụng hóa chất và không sử dụng hóa chất độc hại) là điều rất cần thiết không chỉ Cần Thơ mà còn thực hiện trên cả nước để góp phần phát triển kinh tế xã hội nói chung và nhất là cho phần lớn nông dân ở nông thôn.

Hotline 1900 6613 Chat với chúng tôi qua Messenger Chat với chúng tôi qua Zalo Fanpage Bình Điền BFC Kênh Youtube Bình Điền BFC