Mặc dù là mặt hàng xuất khẩu có “thứ hạng” trên hàng thế giới nhưng đường tiến ra thương trường của hạt gạo Việt Nam vẫn còn “bộn bề” những trở ngại.
Có thể thấy rất rõ là công nghệ xử lý lúa sau thu hoạch nhìn chung còn lạc hậu, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch còn lớn. Theo báo cáo kết quả của một số nghiên cứu, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch với lúa của nước ta khoảng 13 đến 16%, trong đó 3 khâu tổn thất lớn nhất là phơi sấy, bảo quản và xay xát (chiếm 68 đến 70% tổng lượng tổn thất) do thiếu phương tiện làm khô, kho bảo quản nghèo nàn, hệ thống giống lúa kém đồng bộ và thiết bị xay xát còn lạc hậu.
Chất lượng gạo và sản phẩm từ gạo chưa cao. Ở Việt Nam, gần 80% tổng lượng thóc được xay xát do tư nhân thực hiện, hầu hết là các nhà máy nhỏ không được trang bị đồng bộ về sân phơi, lò sấy, kho chứa và chủ yếu xay gia công nên chất lượng lúa gạo thường thấp, giá trị gia tăng trong các sản phẩm hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong khi đó, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu thử nghiệm và phát triển các loại giống lúa mới có chất lượng cao chưa phát huy được hiệu quả mong muốn.
Khả năng tăng sản lượng gạo hàng hóa để xuất khẩu là không lớn. Trong khi chịu sức ép về đáp ứng nhu cầu lương thực do dân số gia tăng thì từ năm 1996 đến nay, diện tích sản xuất lúa của Việt Nam hầu như không tăng và dao động ở mức từ 7 triệu đến gần 7,5 triệu ha. Lượng gạo xuất khẩu do vậy cũng được xác định chỉ duy trì ở mức 4 đến 4,5 triệu tấn/gạo, khó tăng sản lượng để tạo sức mạnh cạnh tranh với các đối thủ khác.
Hạ tầng phục vụ sản xuất, lưu thông xuất khẩu gạo còn nhiều hạn chế. Các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bến cảng và thủ tục xuất nhập khẩu gạo của nước ta còn cao hơn so với các nước khác như chi phí bốc xếp và chi phí liên quan tại cảng (tại cảng Sài Gòn các chi phí này khoảng 4 đến 5 USD/tấn trong khi ở Bangkok - Thái Lan chỉ bẳng 50%, thời gian xếp hàng lên tàu tại cảng Sài Gòn cũng kéo dài hơn khoảng 30% so với ở Thái Lan…).
Thị trường xuất khẩu khá đa dạng nhưng chưa vươn tới được các thị trường cao cấp. Gạo của Việt Nam đã xuất khẩu sang 80 nước trên thế giới, tuy nhiên những hạn chế về chất lượng vẫn cản trở Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường có yêu cầu chất lượng cao. Các hạn chế về khả năng cung cấp tín dụng cũng làm gạo của Việt Nam kém cạnh tranh hơn các thị trường có khó khăn về thanh toán. Nhu cầu thị trường biến động phụ thuộc rất nhiều vào tình hình sản xuất của các nước nhập khẩu trên thế giới. Vì thế, trong điều kiện thời tiết, mùa vụ thuận lợi, các nước sản xuất lúa gạo có nhiều khả năng để đáp ứng nhu cầu trong nước thì nhu cầu về nhập khẩu sẽ giảm và ngược lại.
Vấn đề thương hiệu chưa được coi trọng đã làm giảm đáng kể giá trị và uy tín của gạo Việt Nam. Trong khi trên thị trường gạo thế giới, thương hiệu gạo “Hương nhài-Jasmine”, gạo Basmati đã được gắn liền với các quốc gia sản xuất là Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan thì hầu như gạo xuất khẩu của Việt Nam chưa xây dựng được một thương hiệu nổi tiếng nào riêng cho mình.
Đây là mặt hàng có năng lực cạnh tranh không cao nhưng cũng không chịu nhiều áp lực trong quá trình hội nhập, đặc biệt là áp lực về cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Thách thức lớn nhất đối với mặt hàng gạo của Việt Nam trong quá trình hội nhập là vấn đề nâng cao chất lượng để gia tăng giá trị xuất khẩu cũng như giữ vững được những thị trường đang có.
Giải pháp để nâng cao giá trị xuất khẩu gạo theo Bộ Thương mại chính là tăng cường phẩm cấp, chất lượng và thương hiệu đồng thời với việc giữ vững lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất lúa của Việt Nam. Đổi mới cơ chế điều hành của nhà nước cũng như phối hợp giữa doanh nghiệp và hiệp hội trong hoạt động xuất khẩu. Cũng cần cải thiện khả năng cung cấp tín dụng, đặc biệt là đối với thị trường có khó khăn về thanh toán cho các đơn vị kinh doanh xuất khẩu gạo. Tập trung đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, phát triển giống lúa mới phù hợp với từng vùng sinh thái, có năng suất chất lượng cao và phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trên các thị trường khác nhau để cung cấp cho nông dân đưa vào sản xuất quy mô lớn; đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ bảo quản và chế biến gạo để giảm thiểu tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch và nâng cao phẩm cấp của gạo, đặc biệt là xuất khẩu. Triển khai tích cực việc phát triển cùng lúa chất lượng cao 1 triệu ha thông qua các biện pháp đồng bộ về khuyến nông, chương trình giống và các chính sách về ký kết hợp đồng thu mua và tiêu thụ nông sản. Tăng cường đầu tư củng cố hạ tầng kỹ thuật cho các vùng trọng điểm lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng để nâng cao năng suất lúa. Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xúc tiến thương mại, tìm kiếm bạn hàng và xây dựng, củng cố thương hiệu cho gạo xuất khẩu của Việt Nam.