Giống lúa Japonica ở các tỉnh miền núi phía Bắc
(15/6/2010) - LTS: Japonica là
(loài phụ) lúa chịu lạnh mới xuất hiện ở Việt Nam. Đây là những giống lúa hạt
tròn, chất lượng gạo ngon, thời gian sinh trưởng ngắn phù hợp với vụ xuân và
khu vực miền núi phía Bắc. NNVN trân trọng giới thiệu bài viết của GS.TS Đỗ Năng
Vịnh – Phó Viện trưởng Viện Di truyền NN về loại lúa này.
Mấy năm gần đây,
thị trường lúa gạo trong nước thường gặp các giống lúa Japonica có nguồn gốc Nhật
Bản với giá bán cao gấp 2-3 lần giá gạo Indica. Nhu cầu đối với lúa gạo chất lượng
cao của người tiêu dùng trong nước và người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam ngày
càng lớn là cơ hội để mở rộng SX và thương mại một số giống lúa mới chất lượng
cao – lúa hạt tròn Japonica.
Lúa trồng Oryza
sativa (2n=24) được phân làm các loại phụ là O.S Indica, O.S japonica và O.S
Javanica. Ngoài ra, còn có các nhón giống lúa trung gian giữa các loài phụ trên
(Glaszmann, 1987). Các giống lúa Japonica được SX chủ yếu ở vùng lạnh và cận
nhiệt đới. Ở Việt Nam, các giống lúa nương, lúa nếp thuộc nhón lúa Japonica được
đồng bào các dân tộc SX và sử dụng từ lâu đời. Một số nhà khoa học trên thế giới,
dựa trên phân tích gen, cho rằng các giống lúa Japonica có nguồn gốc từ các vùng
núi Việt-Trung.
Trên thế giới người
ta biết đến 2 loại gạo chất lượng cao chính: gạo hạt dài chất lượng cao thuộc
loài phụ Indica, được SX ở các nước nhiệt đới và loại hạt tròn thuộc loài phụ
Japonica được SX chủ yếu ở vùng lạnh. Khác với lúa Indica, hạt gạo của lúa
Japonica tròn, cơm dẻo do có hàm lượng amylose thấp hơn và có chứa amylopectin.
Một số giống lúa Japonica, cơm có màu hơi vàng do có hàm lượng protein trong hạt
khá cao.
Lúa Japonica thấp
cây đến trung bình, chống đổ tốt, chịu thâm canh, chịu hạn khỏe, có khả năng chống
chịu nhiều loại sâu bệnh, thời gian sinh trưởng từ ngắn đến trung bình. Ưu điểm
quan trọng của lúa Japonica là khả năng chịu lạnh, có khả năng sinh trưởng ở
nhiệt độ thấp xung quanh 15 độ C. Lúa Japonica thích hợp với vùng trồng có khí
hậu ôn đới, cận nhiệt đới và vùng cao nhiệt đới. Các nước trồng lúa Japonica chủ
yếu tập trung ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc trải dài tới Trung Cận
Đông: Ai Cập, Maroc, Thổ Nhĩ Kỳ. Do sự đa dạng và tính thích ứng tốt của giống
nên các châu lục khác cũng trồng lúa Japonica như châu Âu, Bắc Mỹ, châu Úc, các
nước Trung Á. Lúa Japonica có năng suất trung bình cao hơn lúa Indica từ 0,5-1
tấn/ha. Tại những trạm thực nghiệm năng suất có thể tới 13 tấn/ha. Úc và Ai Cập
là nơi SX lúa Japonica có năng suất bình quân 9-9,5 tấn/ha (Dat Van Tran 1998).
Theo thống kê của
FAO từ năm 1982-1994 diện tích trồng lúa Japonica trên thế giới thay đổi không
nhiều, nhưng sản lượng lúa tăng 16,6% chủ yếu nhờ vào tăng năng suất trung bình
từ 5-5,8 tấn/ha. Tổng sản lượng lúa Japonica của thế giới khoảng 100 triệu tấn
trên diện tích 17,29 triệu ha, chiếm khoảng 11,9% tổng diện tích trồng lúa thế
giới (nguồn: FAO production year-book, 1984 and 1994). Nhưng tình hình SX lúa
Japonica trên thế giới hiện nay có những thay đổi, diện tích trồng lúa Japonica
cũng đã lên tới 20%. Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về SX lúa Japonica với
tổng diện tích khoảng 7,3 triệu ha, tiếp đó là Nhật Bản 2,1 triệu ha, Triều Tiên
và Hàn Quốc khoảng 2,5 triệu ha, Nepal 1,45 triệu ha... Nước Mỹ hàng năm SX khoảng
10 triệu tấn lúa Japonica trên 1,3 triệu ha. (nguồn FAO 2005). Bang California
là bang SX chính với 90% lúa Japonica, với năng suất bình quân 9 tấn/ha, trong đó
XK khoảng 30% (Mechel S.Paggi and Fumiko
Yamazaki 2001).
Ba thị trường nhập
khẩu lúa Japonica lớn nhất châu Á là Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan của Mỹ,
Australia, Trung Quốc và Thái Lan. Riêng Nhật mỗi năm nhập khẩu gần 1 triệu tấn
gạo Japonica. Thổ Nhĩ Kỳ là thị trường lớn thứ nhì, nhập khẩu từ Ai Cập, Mỹ và
Australia
(nguồn: Japan Grain and Feed
Annual 2002, March 2002. FAS/USDA). Ngoài ra còn khoảng 42 quốc gia khác nhập
khẩu gạo Japonica (Mechel S. Paggi ang Fumiko Yamazaki 2001).
Theo GS Nguyễn Văn
Luật, vào thập niên 90, Viện Lúa ĐBSCL đã có hợp tác với Viện JIRCAS của Nhật Bản
nghiên cứu khảo nghiệm các giống lúa Japonica do các nhà khoa học Nhật mang
sang. Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cũng đã hợp tác với Nhật trồng thử
ở Thái Bình và một số địa phương khác. Đồng thời Cty của Nhật cũng hợp tác với
tỉnh An Giang trồng thử nghiệm các giống lúa hạt tròn Japonica, năng suất đạt
8-8,5 tấn/ha. Tuy vậy, các nghiên cứu trên đây vẫn chưa xác định được giống lúa
nào phù hợp với loại đất nào (GS. Nguyen Van Luat, 2007)
Viện Di truyền Nông
nghiệp đang triển khai việc chọn tạo các giống lúa Japonica. Viện đã kết hợp với
các Viện thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), Hội Giống cây trồng
TW triển khai việc chọn tạo, khảo nghiệm gần 100 giống lúa Japonica khác nhau ở
các tỉnh phía Bắc. Trong đó, giống lúa Japonica ĐS1 do GS.TS Hoàng Tuyết Minh và
cộng sự chọn tạo, được khảo nghiệm và nhân giống từ năm 2001, có năng suất cao,
chất lượng tốt, được Bộ NN và PTNT công nhận là giống tạm thời. Hiện tại giống ĐS1
đang được mở rộng SX tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền núi như: Hưng Yên,
Thái Bình, Hòa Bình, Thái Nguyên, Yên Bái và một số địa phương khác.
Giống ĐS1 trồng được
cà hai vụ, thời gian sinh trưởng trung bình, năng suất vụ xuân đạt trung bình
7-8 tấn/ha, có nhiều ưu điểm: cứng cây, chịu rét tốt, ít sâu bệnh...
Đặc biệt, vụ xuân năm
2008 là vụ rét lịch sử, hàng trăm ngàn ha mạ và lúa bị chết rét, nhưng lúa ĐS1
mạ vẫn xanh tốt, bộ rễ trắng tinh, năng suất ở nhiều điểm đạt trên 8 tấn/ha.
Theo báo cáo của Trung tâm giống Hòa Bình, lúa ĐS1 càng lên vùng cao lạnh hơn
thì năng suất cao hơn, một số gia đình đạt trên 10 tấn/ha. Giá gạo bán tại địa
phương cao hơn so với các giống khác 2.500 đ/kg. Kết quả SX giống ĐS1 tại các xã
vùng cao Yên Bái, Thái Nguyên và một số tỉnh miền núi vụ xuân năm 2010 đã chứng
tỏ điều đó. Ngoài ra, Viện DTNN đang tiếp tục khảo nghiệm và chọn tạo hàng chục
giống Japonica khác, trong đó đang nhân nhanh một số giống: J01, J02 có thời
gian sinh trưởng từ 100-110 ngày, năng suất cao, có thể tham gia cơ cấu mùa sớm
kịp cho vụ đông.
Chiến lược phát
triển giống lúa Japonica thời gian tới là tuyển chọn những giống có năng suất,
chất lượng, chống chịu sâu bệnh để phát triển ở các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là
miền núi phía Bắc. Dự kiến sẽ đưa kỹ thuật gieo thẳng vào SX và đưa vụ xuân sớm
hơn nhờ đặc tính chịu lạnh, khai thác các giống có thời gian sinh trưởng ngắn,
bảo đảm SX được 2 vụ lúa có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, chất lượng gạo
cao hơn so với các giống Indica ờ cùng khu vực. Khai thác thêm một vụ đông giữa
2 vụ lúa ở một số địa bàn. gạo Japonica SX ở miền núi cần trở thành thương hiệu
với chất lượng và giá trị thương mại cao, phục vụ nội tiêu và XK. Sự tham gia của
các Cty giống, các Cty chế biến cần được khuyến khích để đẩy mạnh SX và quảng bá
“Gạo núi Japonica”, “Gạo hữu cơ Japonica”
Theo GS.TS Đỗ Năng
Vinh (báo Nông Nghiệp Việt Nam)















