Nhu cầu và giải pháp để quản lý phân khoáng.

Theo tính toán của Hiệp hội Công nghiệp phân bón thế giới (IFA), từ năm 2011 - 2013 toàn thế giới đã sản xuất và sử dụng nhiều hơn năm 2011 một lượng phân khoáng rất lớn.

Theo các số liệu, không chỉ ở khu vực các nước đang phát triển có nhu cầu phân khoáng tăng cao mà ngay cả các nước công nghiệp cũng sử dụng phân khoáng vẫn còn tăng mạnh.

Riêng châu Á (cả Đông và Nam Á) chiếm 78 triệu tấn, bằng 48% số phân tăng lên của toàn thế giới. Việt Nam cũng đóng góp phần xứng đáng trong tỷ phần đáng kể đó. Đấy là bức tranh đã qua. Đối chiếu với nhu cầu và thực trạng hiện hữu về số lượng nhà máy cũng như các doanh nghiệp kinh doanh phân bón ở nước ta cũng chứng tỏ điều đó.

IFA còn dự đoán trong khoảng 4 - 5 năm hay hơn 1 thập kỷ nữa, nhu cầu phân khoáng của thế giới vẫn còn tăng. Nếu tính mốc là năm 2010, thì đến năm 2020, chỉ còn 4 năm nữa, tổng lượng phân khoáng cần tăng là 31,3 triệu tấn (tăng 19,%). Nếu tính thêm 1 thập kỷ nữa, vào năm 2030, thì nhu cầu tăng so với nằm 2010 là 56,8 triệu tấn (bằng 34,8%).

Trong đó đáng kể nhất là phân đạm sẽ đạt đến con số 124 triệu tấn, tăng thêm 23,3 triệu tấn (hay 23,1%), và kali tăng 80,6%. Phân đạm thì nhiều nước vẫn có thể sản xuất được. Nhưng nguồn kali thì số nước có khả năng cung cấp ngày càng thu hẹp, do trữ lượng ngày càng cạn kiệt. Riêng Việt Nam loại phân này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nhập cảng.

Tại sao nhu cầu phân khoáng vẫn cứ tăng cao? Đơn giản là dân số tăng quá nhanh, mà đất đai sử dụng cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Thế giới phải nghĩ cách để nuôi thêm 2 tỷ người nữa vào thập niên 2050. Loài người phải khai thác đất đai nhiều hơn trước khi tìm được đủ nguồn thực phẩm từ đại dương hay một lãnh địa nào đó để thay thế.

Người ta biết rằng, nhờ có cách mạng về công nghiệp phân khoáng ra đời đã làm nền cho cuộc cách mạng xanh phát triển, kéo theo là cách mạng trắng cùng kề vai sát cánh để thăng hoa. Nhờ vậy nạn đói triền miên đã từng đe dọa hàng trăm triệu người trên thế giới dần dần được hạn chế đáng kể.

Nhưng việc lạm dụng phân hóa học cũng là mặt trái đã gây ra hệ lụy cho nền kinh tế và môi trường, cần tìm ra giải pháp khả thi để khắc phục. Trong các loại phân khoáng thì phân N thể hiện cả 2 mặt đối lập nhau. Vì nhờ có đạm mà năng suất của tất cả các loại cây trồng đều tăng theo bước nhảy vọt.

Nhưng kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, chỉ có khoảng 40 - 50% lượng N bón vào (có trường hợp tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều) được cây sử dụng để tạo ra sản phẩm, hơn một nữa số còn lại là bị thất thoát bằng nhiều con đường khác nhau, vừa gây thiệt hại kinh tế cho người sản xuất vừa góp phần làm giảm độ an toàn của nông sản và đặc biệt là gây ô nhiễm cho môi trường sinh thái. Tính toán khiêm tốn, giả sử chất đạm chỉ thất thoát 30% thì với tổng lượng phân đạm 124 triệu tấn, hàng năm thế giới cũng phải mất đến 37,2 triệu tấn phân N (tương đương với 13 tỷ USD).

Giải pháp nào có thể khắc phục được trở ngại này? Đã từ lâu các nhà khoa học đã nghĩ ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng phân khoáng. Chương trình hành động này được bắt đầu và cũng tập trung vào nâng cao hiệu quả sử dụng chất N. Không kể các biện pháp thông thường như bón sâu, vùi phân vào đất, chia phân ra nhiều lần để bón, bón phối hợp vời phân hữu cơ các loại hay vo viên để dúi vào gốc cây… thì cũng đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc hóa học để ngăn chặn hoạt tính của men Urease, hay ngăn chặn quá trình nitrat hóa hoặc phản nitrat hóa, được gọi chung là các chất kìm hãm thất thoát đạm, hay gọi là phân chậm tan.

Một số chế phẩm đã được nghiên cứu là: Formaldehyde, Polyolefin, Lưu huỳnh, Methylen; DMPP(3,4 dimethylpyrazol phosphate), DCD ( Dicyandiaminde), CLMP ( 4-chloro-3-methylpyrazole), CMP (1-carbamoyle-3-methylpyrazole) dầu neem, than nâu… và phổ biến hiện nay là NBPT (N(-n-buthyl thiophosphorit triamide).

Các loại chế phẩm này bọc cho phân N hay cả NPK đều có tác dụng làm chậm giải phóng đạm NH4+ ra môi trường hay làm chậm công đoạn chuyển hóa từ NH3 thành N03, N20 và N2 và được gọi là các loại phân chậm tan.

Các loại phân trên do giá thành sản xuất tăng cao, nên trong các thập kỹ vừa qua mới dừng lại địa bản sử dụng cho hoa lan, cây cảnh, cây cỏ sân golf hay các bãi cỏ trang trí, và một số cây nông nghiệp có giá trị kinh tế cao.

Ngày nay đã cho ra đời các loại phân nhả chậm có kiểm soát, cho phép N và các chất dinh dưỡng khác được giải phóng từ từ theo nhu cầu của từng loại cây, với thời gian định trước 3,6 hay 9 tháng. Hiện nay cả 2 chủng loại phân nhả chậm hay nhả chậm có kiểm soát đã được các nước như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật bản… ứng dụng trong nông nghiệp khá rộng rãi. Ở Ấn Độ, Chính phủ có chính sách hỗ trợ dùng dầu Neem bọc cho khoảng 30 triệu tấn Ure, bao gồm cả 8 triệu tấn nhập khẩu.

Ở Việt Nam, Cty Cổ phần Phân bón Bình Điền từ năm 2008, đã ứng dụng chế phẩm Agrotain bọc cho Ure gọi là là Đầu Trâu 46A+ cũng như các loại phân NPK khác. Đồng thời sử dụng chế phẩm Avail bọc cho DAP và các loại phân chứa P khác đã giúp tiết giảm bình quân 30% chất N và P sử dụng khá rộng rãi cả trong và ngoài nước, đã góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cũng như làm giảm ô nhiễm môi trường sinh thái rất rõ rệt.

Trong những thập kỷ sắp tới, việc mở rộng áp dụng các chủng loại phân chậm tan hay chậm tan có kiểm soát cho sản xuất nông nghiệp sẽ là giải pháp chủ lực trong chiến lược phát triển nguồn phân bón của thế giới.

 GS.TS Mai Văn Quyền

Bảng giá phân bón

SA Nhật Hạt trắng3.900
SA TQ Hạt trắng2.700
SA TQ Hạt nhuyễn2.750
Kali Lào bột trắng5.200
Kali Russia hạt6.800
Kali Israel hạt6.900
Ure đục Cà Mau5.900
Ure Phú Mỹ hạt trong6.400
Ure TQ hạt đục5.900

[Xem tiếp]

Hỏi đáp

Bình Điền giải đáp các câu hỏi về việc sử dụng phân bón và phòng trừ sâu bệnh cho nhà nông.

Đặt câu hỏiXem câu hỏi

 

Tỷ giá Ngoại tệ

 


Top

Nhu cầu và giải pháp để quản lý phân khoáng.

Theo tính toán của Hiệp hội Công nghiệp phân bón thế giới (IFA), từ năm 2011 - 2013 toàn thế giới đã sản xuất và sử dụng nhiều hơn năm 2011 một lượng phân khoáng rất lớn.

Theo các số liệu, không chỉ ở khu vực các nước đang phát triển có nhu cầu phân khoáng tăng cao mà ngay cả các nước công nghiệp cũng sử dụng phân khoáng vẫn còn tăng mạnh.

Riêng châu Á (cả Đông và Nam Á) chiếm 78 triệu tấn, bằng 48% số phân tăng lên của toàn thế giới. Việt Nam cũng đóng góp phần xứng đáng trong tỷ phần đáng kể đó. Đấy là bức tranh đã qua. Đối chiếu với nhu cầu và thực trạng hiện hữu về số lượng nhà máy cũng như các doanh nghiệp kinh doanh phân bón ở nước ta cũng chứng tỏ điều đó.

IFA còn dự đoán trong khoảng 4 - 5 năm hay hơn 1 thập kỷ nữa, nhu cầu phân khoáng của thế giới vẫn còn tăng. Nếu tính mốc là năm 2010, thì đến năm 2020, chỉ còn 4 năm nữa, tổng lượng phân khoáng cần tăng là 31,3 triệu tấn (tăng 19,%). Nếu tính thêm 1 thập kỷ nữa, vào năm 2030, thì nhu cầu tăng so với nằm 2010 là 56,8 triệu tấn (bằng 34,8%).

Trong đó đáng kể nhất là phân đạm sẽ đạt đến con số 124 triệu tấn, tăng thêm 23,3 triệu tấn (hay 23,1%), và kali tăng 80,6%. Phân đạm thì nhiều nước vẫn có thể sản xuất được. Nhưng nguồn kali thì số nước có khả năng cung cấp ngày càng thu hẹp, do trữ lượng ngày càng cạn kiệt. Riêng Việt Nam loại phân này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nhập cảng.

Tại sao nhu cầu phân khoáng vẫn cứ tăng cao? Đơn giản là dân số tăng quá nhanh, mà đất đai sử dụng cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Thế giới phải nghĩ cách để nuôi thêm 2 tỷ người nữa vào thập niên 2050. Loài người phải khai thác đất đai nhiều hơn trước khi tìm được đủ nguồn thực phẩm từ đại dương hay một lãnh địa nào đó để thay thế.

Người ta biết rằng, nhờ có cách mạng về công nghiệp phân khoáng ra đời đã làm nền cho cuộc cách mạng xanh phát triển, kéo theo là cách mạng trắng cùng kề vai sát cánh để thăng hoa. Nhờ vậy nạn đói triền miên đã từng đe dọa hàng trăm triệu người trên thế giới dần dần được hạn chế đáng kể.

Nhưng việc lạm dụng phân hóa học cũng là mặt trái đã gây ra hệ lụy cho nền kinh tế và môi trường, cần tìm ra giải pháp khả thi để khắc phục. Trong các loại phân khoáng thì phân N thể hiện cả 2 mặt đối lập nhau. Vì nhờ có đạm mà năng suất của tất cả các loại cây trồng đều tăng theo bước nhảy vọt.

Nhưng kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, chỉ có khoảng 40 - 50% lượng N bón vào (có trường hợp tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều) được cây sử dụng để tạo ra sản phẩm, hơn một nữa số còn lại là bị thất thoát bằng nhiều con đường khác nhau, vừa gây thiệt hại kinh tế cho người sản xuất vừa góp phần làm giảm độ an toàn của nông sản và đặc biệt là gây ô nhiễm cho môi trường sinh thái. Tính toán khiêm tốn, giả sử chất đạm chỉ thất thoát 30% thì với tổng lượng phân đạm 124 triệu tấn, hàng năm thế giới cũng phải mất đến 37,2 triệu tấn phân N (tương đương với 13 tỷ USD).

Giải pháp nào có thể khắc phục được trở ngại này? Đã từ lâu các nhà khoa học đã nghĩ ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng phân khoáng. Chương trình hành động này được bắt đầu và cũng tập trung vào nâng cao hiệu quả sử dụng chất N. Không kể các biện pháp thông thường như bón sâu, vùi phân vào đất, chia phân ra nhiều lần để bón, bón phối hợp vời phân hữu cơ các loại hay vo viên để dúi vào gốc cây… thì cũng đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc hóa học để ngăn chặn hoạt tính của men Urease, hay ngăn chặn quá trình nitrat hóa hoặc phản nitrat hóa, được gọi chung là các chất kìm hãm thất thoát đạm, hay gọi là phân chậm tan.

Một số chế phẩm đã được nghiên cứu là: Formaldehyde, Polyolefin, Lưu huỳnh, Methylen; DMPP(3,4 dimethylpyrazol phosphate), DCD ( Dicyandiaminde), CLMP ( 4-chloro-3-methylpyrazole), CMP (1-carbamoyle-3-methylpyrazole) dầu neem, than nâu… và phổ biến hiện nay là NBPT (N(-n-buthyl thiophosphorit triamide).

Các loại chế phẩm này bọc cho phân N hay cả NPK đều có tác dụng làm chậm giải phóng đạm NH4+ ra môi trường hay làm chậm công đoạn chuyển hóa từ NH3 thành N03, N20 và N2 và được gọi là các loại phân chậm tan.

Các loại phân trên do giá thành sản xuất tăng cao, nên trong các thập kỹ vừa qua mới dừng lại địa bản sử dụng cho hoa lan, cây cảnh, cây cỏ sân golf hay các bãi cỏ trang trí, và một số cây nông nghiệp có giá trị kinh tế cao.

Ngày nay đã cho ra đời các loại phân nhả chậm có kiểm soát, cho phép N và các chất dinh dưỡng khác được giải phóng từ từ theo nhu cầu của từng loại cây, với thời gian định trước 3,6 hay 9 tháng. Hiện nay cả 2 chủng loại phân nhả chậm hay nhả chậm có kiểm soát đã được các nước như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật bản… ứng dụng trong nông nghiệp khá rộng rãi. Ở Ấn Độ, Chính phủ có chính sách hỗ trợ dùng dầu Neem bọc cho khoảng 30 triệu tấn Ure, bao gồm cả 8 triệu tấn nhập khẩu.

Ở Việt Nam, Cty Cổ phần Phân bón Bình Điền từ năm 2008, đã ứng dụng chế phẩm Agrotain bọc cho Ure gọi là là Đầu Trâu 46A+ cũng như các loại phân NPK khác. Đồng thời sử dụng chế phẩm Avail bọc cho DAP và các loại phân chứa P khác đã giúp tiết giảm bình quân 30% chất N và P sử dụng khá rộng rãi cả trong và ngoài nước, đã góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cũng như làm giảm ô nhiễm môi trường sinh thái rất rõ rệt.

Trong những thập kỷ sắp tới, việc mở rộng áp dụng các chủng loại phân chậm tan hay chậm tan có kiểm soát cho sản xuất nông nghiệp sẽ là giải pháp chủ lực trong chiến lược phát triển nguồn phân bón của thế giới.

 GS.TS Mai Văn Quyền