ĐBSCL có diện tích trồng mía
chỉ khoảng 65.000 ha nhưng cho sản lượng 5,2 triệu tấn, bình quân 80 tấn/ha (cả
nước có 290.000 ha, sản lượng 16 triệu tấn, bình quân 55 tấn/ha), rất nhiều
cùng như cù lao Dung (Sóc Trăng) đạt năng suất bình quân 120 tấn/ha, trên quy
mô hộ nhiều gia đình đạt năng suất trên 200 tấn/ha. Đất đai màu mỡ, có nước
tưới và lượng bức xạ cao là ưu thế tuyệt đối cho cây mía ở đây. Thế nhưng lợi
thế đó chưa được khai thác đúng mức.
Theo PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ, Trường
ĐH Cần THơ thì mặc dù nông dân ĐBSCL đã bắt đầu làm quen với kỹ thuật canh tác
mía tiên tiến nhưng còn nhiều điểm hạn chế trên cả 3 mặt (giống, kỹ thuật canh
tác và thu hoạch), trong đó việc không bón lót, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến
năng suất và chữ đường.
Chữ đường thấp có nguyên
nhân phần lớn từ việc không áp dụng đúng kỹ thuật bón phân. Người trồng mía Hậu
Giang thường chia phân ra làm 3 lần bón, lần 1 sau khi mía nảy mầm (cứ 1.000 m2
bón 25kg urê + 50 kg lân); lần 2 cách lần 1 bón 1,5 tháng bón 25 kg DAP + 25 kg
urê; lần 3 bón lúc mía đã 6 tháng tuổi, tiếp tục bón 25 kg DAP + 25 kg urê.
Một số nông dân khác thì có
biết đến vai trò của kali, thế nhưng do 2 năm lại đây phân kali giá quá cao nên
lại không dùng, hoặc chỉ dùng quá ít gần ngày thu hoạch. Việc không bón lót,
bón phân quá trễ, bón mất cân đối đã khiến cho chất lượng đường giảm hẳn, thông
thường chữ đường đầu vụ chỉ đạt 6 độ, khiến cho việc chế biến ở nhà máy không
hiệu quả.
Theo các nghiên cứu của VN
và thế giới, dinh dưỡng có ảnh hưởng rất quyết định đến các yếu tố cấu thành
năng suất như mật độ cây hữu hiệu, chiều cao cây, đường kính thân, trọng lượng
cây, chi phối thời gian chín, hàm lượng đường, đồng thời còn ảnh hưởng đến cả
vụ gốc năm sau.
Nhìn chung, mía hấp thu kali
nhiều nhất, thứ đến là đạm, sau đó là lân. Thông thường muốn có được 100 tấn
mía cây nguyên liệu (không kể đọt, lá…), cây cần:
N: Từ 80-180 kg, cá biệt đến
280 kg (đạm nguyên chất).
K2O: Từ 200-270 kg, cá biệt
đến 330 kg (kali nguyên chất)
P2O5: Từ 80-170 kg, cá biệt
đến 170 kg (lân nguyên chất).
- Trong thời kỳ mầm non (từ
1-5 lá thật) mía yêu cầu nhiều nhất là đạm rồi mới đến kali và lân;
- Trong thời kỳ đẻ nhánh và
đầu thời kỳ vươn cao, mía yêu cầu nhiều nhất là kali rồi mới đến lân, sau cùng
là đạm;
- Trong thời kỳ mía chín
(tích lũy đường) nhu cầu của mía theo thứ tự N-P-K.
Xét về khối lượng chất dinh
dưỡng:
- Trong thời kỳ mầm, mía sử
dụng chất dinh dưỡng ít nhất;
- Trong thời kỳ vươn lóng,
mía sử dụng chất dinh dưỡng nhiều nhất;
- Trong thời ký thành thục
(tích lũy đường) mía sử dụng chất dinh dưỡng ít hơn thời kỳ lóng nhưng nhiều
hơn thời kỳ mầm. Đặc biệt trong thời kỳ này quá thừa hay quá thiếu đạm đều có
hại-thừa đạm sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng, thiếu đạm thì ảnh hưởng xấu đến
năng suất và khả năng tái sinh, chất lượng mầm của vụ mía gốc tiếp theo.
Ngoài các yếu tố đa lượng
NPK, mía còn cần nhiều chất trung vi lượng, nhiều nhất là magiê (Mg), sau đó là
canxi (Ca), silic (Si), kẽm (Zn); mangan (Mn), đồng (Cu)…những chất trung và vi
lượng này người nông dân không thể tự mua về để sử dụng làm phân bón được, nên
sử dụng các loại phân đã có pha chế sẵn các nguyên tố trung vi lượng (TE).
Triệu chứng thiếu NPK thì người dân đã tự nhận biết được, có khi thiếu magiê lá
có những vệt sọc trắng sau lan rộng làm mất màu phần thịt lá, gân lá vẫn còn
xanh, năng suất thấp.
(Xem bảng)
Ngoài nguyên nhân dinh
dưỡng, việc chữ đường thấp ở ĐBSCL còn do phải thu hoạch sớm trước lúa và mía
chín để tránh lụt. Theo phân tích, cứ thu hoạch trước khi chín 7-10 ngày thì
chữ đường bị mất 01 độ. Mía đến độ chín là mía có độ ngọt từ dưới gốc lên ngọn
chênh lệch nhau không nhiều, thường chỉ là 1 độ CCS.
Theo PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ,
để giúp đồng bào vùng vượt lũ, một số nguyên cứu dùng hóa chất để thúc đẩy quá
trình đang được triển khai. Từ lâu nông dân đã có mẹo dùng nước để thúc mía
chín, tuy nhiên biện pháp này chỉ thúc mía chín sớm được trong khoảng 10-15
ngày vì mía quá non cũng không thể ép chín được. Mặt khác phải hết sức chính
xác ngày thu hoạch vì khi đã dẫn nước vào đủ thì quá trình phân hủy đường cũng
diễn ra rất nhanh sau đó, khiến cho mía bị lạt, thiệt hại rất lớn.
QUY TRÌNH BÓN PHÂN ĐẦU TRÂU CHO MÍA
|
LOẠI PHÂN
|
THỜI KỲ BÓN
|
SỐ LƯỢNG
|
|
Đầu trâu TE mía 1 (20.10.15
+TE)
|
Bón lót
|
300-400 kg/ha
|
|
Đầu trâu TE mía 1 (20.10.15
+TE)
|
Bón thúc 1 (kết thúc nảy mầm:
30-45 ngày sau xuống giống)
|
300-400 kg/ha
|
|
Đầu Trâu TE Mía 2 (15.7.20
+TE)
|
Bón thúc 2 (Kết thúc đẻ nhánh
bắt đầu vươn lóng)
|
400-500 kg/ha
|